- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn L + Đb phạm tội " cướp tài sản" - phạm tội cướp tài sản (điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Phạm Văn L, Nguyễn Văn C.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 133 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:198/2017/HSPT Ngày: 23/10/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Dương Xuân Tuấn
Các thẩm phán:
Bà Lê Thị Hiền
Bà Nguyễn Thị Chinh
Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đỗ Kim Oanh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên
Ngày 23/10/2017, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 175/2017/HSPT ngày 29 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo Phạm Văn L, Nguyễn Văn C; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2017/HSST ngày 23/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung.
Bị cáo có kháng cáo:
1.Phạm Văn L sinh năm 1988
Nơi ĐKHKTT tại: Khu 6, phường B, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Phạm Văn L và bà Đỗ Thị T. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 30/6/2017 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”
Ngày 03/8/2017 Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 năm 09 tháng tù về tội “Cướp tài sản”.
Bị bắt tạm giam trong vụ án khác ngày 08/01/2017, có mặt.
2. Nguyễn Văn C sinh năm 1990 Nơi ĐKHKTT tại: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Nguyễn Ngọc L và bà Lê Thị H. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 03/8/2017 Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”.
Bị bắt tạm giam trong vụ án khác ngày 11/01/2017, có mặt.
Người bị hại không kháng cáo: Lê Thị L, Sằm Thị T, Phạm Thị H.
NHẬN THẤY:
Theo cáo trạng và bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, nội D vụ án như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 21/11/2016 Nguyễn Văn S gọi điện rủ Phạm Văn L đi chơi, L đồng ý. S điều khiển xe mô tô BKS 36B4-36142 từ nhà ở Thôn Đ, xã H, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa ra nhà L ở phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn. Khi gặp nhau L rủ S đi cướp tài sản để lấy tiền tiêu sài thì S đồng ý. L vào nhà lấy 01 con dao gấp dài khoảng 20cm bỏ vào túi quần rồi quay ra chỗ S. S điều khiển xe mô tô, cả hai thống nhất đến khu vực Công ty dày da Venus địa phận xã Hà Bình huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, thấy người nào đi một mình ở đường vắng sẽ dùng dao khống chế cướp tài sản. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, L và S phát hiện chị Lê Thị L đang đi bộ một mình xuống khu vực đường sắt theo đường đê Nội Đồng, thôn Thịnh Thôn xã Hà Bình. L và S bám theo, đến rào chắn đường sắt, S đứng lại trông xe và cảnh giới, L cầm theo con dao theo hướng đê Nội Đồng đuổi theo chị L. Khi đến sát chị L, L rút dao ra đồng thời đe dọa “Đưa điện thoại và tiền đây”, chị L sợ không giám phản ứng, đồng thời rút điện thoại Oppo Neo7 màu trắng trong túi xách ra đưa cho L, sau khi lấy được điện thoại bỏ vào túi quần, L quát tiếp “Còn gì nữa không” chị L nói “Còn 40.000đ” nên L không lấy bảo chị L “ Đi đi”. Sau khi lấy được điện thoại L quay lại chỗ S nói với S không cướp được gì, cả hai quay về. Chiếc điện thoại Oppo Neo7 L mang đến cửa hàng Thịnh T ở phường Ngọc Trạo, thị xã Bỉm Sơn bán với giá 1.600.000đ số tiền này L tiêu hết.
Ngày 01/3/2017 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hà Trung kết luận: Chiếc điện thoại Oppo Neo 7, màu trắng của chị Lê Thị L trị giá 2.100.000đ.
Quá trình điều tra Phạm Văn L khai nhận ngoài vụ cướp điện thoại của chị L thì L còn thực hiện 02 vụ cướp tài sản trên địa bàn huyện Hà Trung:
Vụ thứ nhất: Ngày 16/12/2016 L dùng con dao nhọn dài khoảng 20cm mà L dùng trong vụ cướp cùng với S. L điều khiển xe mô tô BKS 36F5-01507 đi từ nhà theo quốc lộ 1A vào huyện Hà Trung rẽ vào đường 217B theo hướng đi về xã Hà Long huyện, Hà Trung với mục đích đi cướp tài sản. Đến khoảng 22 giờ L phát hiện phía trước có chị Sằm Thị T, người xã Thành Vân, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa đang đi xe máy một mình trên người đeo túi xách. L tăng ga đuổi theo đến đoạn đường vắng thuộc thôn Gia Miêu xã Hà Long, L tăng ga vượt lên ép chị T dừng xe đồng thời L lấy dao nhọn ra đe dọa và quát “Đưa túi đây” chị T sợ pH lấy túi xách đeo trên người đưa cho L. Sau khi lấy được túi xách, L quay xe chạy về hướng quốc lộ 1A đến đoạn đường đất chạy song song với đường sắt, L dừng xe kiểm tra trong túi có 01 điện thoại Oppo Neo 7 màu trắng và khoảng 600.000đ tiền mặt và một số giấy tờ tùy thân của chị T. Biết chị T làm ở công ty dày Venus L đã đem túi sách và 1 số giấy tờ tùy thân gửi bảo vệ để trả lại cho chị T. Ngày hôm sau L mang điện thoại cướp được của chị T bán cho chị Th là chủ cửa hàng điện thoại Thịnh Thoa ở phường Ngọc Trạo thị xã Bỉm Sơn với giá 1.600.000đ, số tiền cướp được và bán điện thoại L tiêu sài hết.
Ngày 01/03/2017 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Hà Trung kết luận chiếc điện thoại Oppo Neo 7, màu trắng của chị Sằm Thị T trị giá 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng). Chiếc túi xách mua đã lâu hiện không còn giá trị.
Vụ thứ 2: Khoảng 19 giờ ngày 23/12/2016 Nguyễn Văn C điện thoại rủ Phạm Văn L đi chơi thì L đồng ý. C điều khiển xe mô tô BKS 36B3-45528 của mình đi từ thôn Đạo Lý, xã Hoằng Đạo, huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa ra nhà L ở Phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn. Đến nơi L rủ C đi cướp tài sản để tiêu sài thì C đồng ý. L cầm theo con dao nhọn dùng cướp tài sản trước đó bỏ vào túi quần, C điều khiển xe mô tô chở L theo hướng Bỉm Sơn đi Hà Trung theo quốc lộ 1A. Khi đi đến cầu Cừ thuộc địa phận xã Hà Yên huyện Hà Trung, Phạm Văn L xuống đổi lái, L điều khiển xe mô tô, C ngồi sau. L điều khiển xe mô tô theo hướng tỉnh lộ 527C qua xã Hà Dương, Hà Vân, Hà Châu, khi đi đến trạm bơm nước xã Hà Châu, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, phát hiện thấy chị Phạm Thị H trú tại thôn 8, xã Hà Châu, huyện Hà Trung đi xe máy một mình, L tăng ga lên ép chị H vào lề đường. Khi dừng xe C đứng trông xe và cảnh giới, L cầm dao nhọn và túm áo chị H đe dọa “Đưa điện thoại đây” chị H run sợ nói không có, L dùng tay kéo áo chị H lại định kiểm tra trong túi xem có tài sản gì không, chị H sợ lùi lại phía sau vướng phải xe máy và ngã xuống vệ đường, đồng thời lúc này có có ánh đèn xe đi đến, sợ bị phát hiện nên không cướp được tài sản của chị H, L bảo C nổ xe máy và chạy về hướng xã Hà Thanh.
Quá trình điều tra 01 con dao nhọn dạng gấp, 01 xe mô tô Yamaha Novo màu trắng BKS 36F5-01507, 01 xe mô tô BKS36B3-45528 là công cụ, phương tiện Phạm Văn L và Nguyễn Văn C dùng để cướp tài sản là tang vật hiện đang thu giữ phục vụ xét xử trong vụ án khác. Chiếc xe mô tô honda màu đỏ BKS 36B4-36142 Nguyễn Văn S mượn của chị Nguyễn Thị D, chị D không biết S mượn đi cướp tài sản nên Công an huyện Hà Trung đã trả lại cho chị D. 02 điện thoại Oppo Neo7 chị Đặng Thị Th đã mua của L, chị Thoa không biết tài sản phạm pháp mà có nên đã bán cho người qua đường, nên không thu hồi được.
Chiếc túi xách và một số giấy tờ tùy thân chị Sằm Thị T đã nhận lại, chị T yêu cầu bị cáo Phạm Văn L bồi thường cho chị giá trị chiếc điện thoại là 2.200.000đ và 600.000đ bị cướp.
Chiếc điện thoại Oppo Neo7 màu trắng chị Lê Thị L yêu cầu bồi thường, bị cáo S đã tác động gia đình đã thỏa thuận bồi thường cho chị L là 3.000.000đ, chị L không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S.
Chị Phạm Thị H, mặc dù các bị cáo đã thực hiện hành vi cướp tài sản, nhưng không lấy được tài sản. Chị H không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường.
Do có hành vi nêu trên, tại Bản án số 48/2017/HSST ngày 23/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung đã quyết định: Phạm Văn L, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S phạm tội “Cướp tài sản”.
Áp dụng: Điểm d, Khoản 2 Điều 133; điểm o, p Khoản 1 Điều 46, điểm g Khoản 1 Điều 48; Điều 33, 53 và 51 BLHS. Xử phạt Phạm Văn L 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù tại Bản án số119/2017/HSPT ngày 03/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa và hình phạt 07 (bảy) năm tù tại Bản án số 75/2017/HSST ngày 30/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình; buộc Phạm Văn L phải chấp hành hình phạt chung của ba bản án là 22 (hai mươi hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2017.
Áp dụng: Điểm d, Khoản 2 Điều 133; điểm g, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điều 33, 53 và 51 BLHS. Xử phạt Nguyễn Văn C 07(bảy) năm 03(ba) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số 119/2017/HSPT ngày 03/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa; buộc Nguyễn Văn C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 13 (mười ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2017.
Áp dụng: Điểm d, Khoản 2 Điều 133; điểm b, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điều 33, 47 và 53 BLHS. Xử phạt Nguyễn Văn S 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2017.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên bị cáo L pH bồi thường cho chị T 2.800.000đ; tuyên án phí và quyền kháng cáo.
Sau án sơ thẩm xử, từ ngày 28/8/2017 đến 31/8/2017, các bị cáo Phạm Văn L, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn S đều có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo L, C giữ nguyên nội D đơn kháng cáo, còn bị cáo S xin rút kháng cáo.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thấy các bị cáo L, C không có tình tiết mới nên đề nghị HĐXX giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo L, C và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo S
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
Tại phiên toà các bị cáo Phạm Văn L, Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nêu. Cụ thể như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 21/11/2016, tại đoạn đường đê Đồng Nội, Thôn Thịnh Thôn, xã Hà Bình, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, Phạm Văn L và Nguyễn Văn S đã dùng dao nhọn, đe dọa dùng vũ lực chiếm đoạt của chị Lê Thị L 01 điện thoại Oppo Neo7 trị giá 2.100.000đ
Khoảng 22 giờ ngày 16/12/2016 tại đoạn đường thuộc thôn Gia Miêu xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, một mình Phạm Văn L đã dùng dao nhọn, đe dọa dùng vũ lực chiếm đoạt của chị Sằm Thị T 01 điện thoại Oppo Neo7 trị giá 2.200.000đ và 600.000đ; 01túi xách và một số giấy tờ tùy thân.
Khoảng 21 giờ ngày 23/12/2016 tại đoạn đường Trạm bơm nước xã Hà Châu, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; Phạm Văn L và Nguyễn Văn C đã dùng dao nhọn, đe dọa dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản của chị Phạm Thị H, nhưng do có người đi đường, sợ bị lộ nên các bị cáo đã bỏ chạy, chưa chiếm đoạt được tài sản của chị H.
Với hành vi trên, Phạm Văn L, Nguyễn Văn C bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cướp tài sản” theo điểm d Khoản 2 Điều 133 BLHS là có căn cứ. Các bị cáo đã nhận thấy tội và chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Hội đồng xét xử thấy hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân và còn đe dọa đến tính mạng sức khỏe của người khác, gây tâm lý hoang mang lo sợ trong nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội.
Xét kháng cáo của các bị cáo, thấy rằng:
Phạm Văn L là người khởi xướng và là người thực hành tích cực có vai trò chính trong vụ án. Trong một khoảng thời gian ngắn L cùng đồng bọn đã gây ra 03 vụ cướp tài sản ở địa bàn huyện Hà Trung và Thạch Thành, trong đó có 01 lần thực hiện phạm tội độc lập nên thuộc trường hợp “Phạm tội nhiều lần” theo điểm g khoản 1 điều 48 BLHS. Sau khi phạm tội L đã khai báo thành khẩn và còn tự thú khai nhận những lần phạm tội khác, là những tình tiết giảm nhẹ TNHS theo điểm o, p Khoản 1 điều 46 BLHS. Bị cáo L có nhân thân xấu, đã từng bị kết án 02 lần đều về tội “Cướp tài sản” những tình tiết này đã được bản án sơ thẩm xem xét đầy đủ.
Đối với Nguyễn Văn C là là đồng phạm tích cực trong vụ án, dùng phương tiện cuả mình để chở L đi cướp tài sản trong đêm 23/12/2016 và giúp L tẩu thoát. Sau khi phạm tội C đã ra đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo. Bị cáo C có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Cướp tài sản” những tình tiết này đã được bản án sơ thẩm xem xét đầy đủ.
Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án và vai trò của các bị cáo trong vụ án. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo không có tình tiết mới và hình phạt của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo đã phù hợp với nhân thân, vai trò, tính chất hành vi phạm tội phạm tội của các bị cáo, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để giảm hình phạt cho các bị cáo L và C.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo pH chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các nội D khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không xem xét.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a Khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng Hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của Phạm Văn L, Nguyễn Văn C.
Giữ nguyên Bản án số 48/2017/HSST ngày 23/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung về hình phạt đối với Phạm Văn L, Nguyễn Văn C.
Áp dụng: Điểm d, Khoản 2 Điều 133; điểm o, p Khoản 1 Điều 46, điểm g Khoản 1 Điều 48; Điều 33, 53 và 51 BLHS.
Xử phạt Phạm Văn L 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù tại Bản án số119/2017/HSPT ngày 03/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa và hình phạt 07 (bảy) năm tù tại Bản án số 75/2017/HSST ngày 30/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình; buộc Phạm Văn L pH chấp hành hình phạt chung của ba bản án là 22 (hai mươi hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2017.
Áp dụng: Điểm d, Khoản 2 Điều 133; điểm g, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46; Điều 33, 53 và 51 BLHS. Xử phạt Nguyễn Văn C 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù tại Bản án số119/2017/HSPT ngày 03/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa; buộc Nguyễn Văn C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 13 (mười ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/01/2017.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm L 200.000đ, C 200.000đ.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao - VKSND tỉnh Thanh Hoá - VKSND huyện Hà Trung; - TAND huyện Hà Trung; - Công an huyện Hà trung: - Thi hành án huyện Hà Trung; - Bị cáo, lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà ( Đã ký ) Dương Xuân Tuấn |