vanban.org

Bản án 198/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng K: 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2025. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Hải D: 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng K, Nguyễn Ngọc Hoàng L, Nguyễn Trần Hải D - mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng K: 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 198/2026/HS-ST
Ngày 29 – 5 – 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Thu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Thu Hương

2. Ông Lê Phú Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quốc Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2026 tại Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 141/2026/TLST-HS, ngày 03 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2026, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Trọng K; Giới tính: Nam; Sinh năm 1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: 113/33 T, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: A P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Hà Thị Mỹ T1; Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/5/2025 đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

2. Họ và tên: Nguyễn Trần Hải D; Giới tính: Nữ; Sinh năm 2002 tại Vĩnh Long; Nơi thường trú: 52/84/48E N, phường L, tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: 2 D, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Nhân viên bất động sản; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D1 và bà Trần Thị Vân T2; Bị cáo chưa có chồng, con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/5/2025 đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

3. Họ và tên: Nguyễn Ngọc Hoàng L; Giới tính: Nam; Sinh năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: A T, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: D L, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: Shipper; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc L1 và bà Nguyễn Thị H; Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/12/2025 đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trọng K: Ông Nguyễn Đăng T3 – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1998; địa chỉ: phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: 765 Tỉnh lộ 43, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

2/ Bà Nguyễn Đàm Bảo H1, sinh năm 2002; địa chỉ: T, Đ, T, Đồng Nai; chỗ ở hiện nay: A P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

3/ Ông Trần Nhật Đ1, sinh năm 2000; địa chỉ: C Y, Tổ dân phố B, phường B, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở hiện nay: 2 H, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

4/ Bà Nguyễn Đặng Mỹ D2, sinh năm 2000; địa chỉ: T, xã L, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay: 9 Đường I, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh – (có mặt).

5/ Ông Mai Công T4, sinh năm 2001; địa chỉ: G, ấp T, xã T, tỉnh Đồng Nai (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/4/2025, anh Nguyễn Kim Đ (sinh năm 1998) là nhân viên giao hàng Ahamove đến Công an P, quận P (cũ) trình báo và giao nộp 04 đơn hàng nghi là ma túy loại cần sa.

Anh Nguyễn Kim Đ trình bày: Vào khoảng 15 giờ 05 phút ngày 29/4/2025, tại ứng dụng Ahamove anh Đ nhận được 04 đơn hàng giao quần áo của khách đặt có tài khoản tên Nguyễn Nhật Q, số điện thoại 070.809.0473 giao đến 04 địa chỉ lần lượt có thông tin người nhận cụ thể như sau:

Người nhận thứ nhất: Thương H3, số điện thoại 039.xxx.xxxx, nơi nhận: B N, Phường A, quận G (cũ) (đã giao hàng thành công).

Người nhận thứ hai: K, số điện thoại 052.xxx.xxxx, nơi nhận: A P, Phường A, quận P (cũ).

Người nhận thứ ba: H2, số điện thoại 093.xxx.xxxx, nơi nhận: 03 đường I, phường T, thành phố T (cũ).

Người nhận thứ tư: M, số điện thoại 089.xxx.xxxx, nơi nhận: Vinhomes G, S, tầng C, phường L, thành phố T (cũ).

Tổng chi phí giao hàng (ship) của 04 đơn hàng là 257.000 đồng (mỗi đơn 90.000 đồng) và anh Đ được Q gửi định vị qua ứng dụng Ahamove tại khu vực T, Quận A (cũ). Qua định vị, anh Đ đến địa điểm (không nhớ địa chỉ cụ thể) và gọi điện thoại số 070.xxx.xxxx gặp Q để nhận hàng đi giao. Đến nơi, Q đưa cho anh Đ 04 túi nylon màu hồng có ghi thông tin tên người nhận, số điện thoại và địa chỉ của người nhận hàng bằng bút lông màu xanh như trên và nói với anh Đ bên trong là quần áo.

Anh Đ liên hệ điện thoại số 039.xxx.xxxx giao đơn hàng thứ nhất cho người nhận tên Thương H3, tuy nhiên người nhận không cư trú tại địa chỉ B N, Phường A, quận G (cũ). Khoảng 05 phút sau, một người đàn ông có hình xăm ở bắp chân trái (không rõ nhận dạng) điều khiển xe máy hiệu Wave (không rõ đặc điểm) đến địa chỉ trên gặp và nói với anh Đ cần lấy đơn hàng ở Quận A. Anh Đ tự hiểu và giao cho người đàn ông này đơn hàng thứ nhất và thu phí giao hàng 90.000 đồng. Anh Đ nghi vấn các đơn hàng của Q đưa là hàng cấm nên anh Đ xé 03 túi hàng nylon còn lại kiểm tra phát hiện 03 gói nylon được ép plastic đựng thảo mộc khô nghi là ma túy loại cần sa. Anh Đ đến Công an P, quận P (cũ) trình báo sự việc nêu trên đồng thời giao nộp 03 gói nylon chứa thảo mộc khô nghi vấn là ma túy (cần sa) của 03 đơn hàng chưa đi giao.

Công an P, quận P (cũ) tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong 03 gói nylon chứa thảo mộc khô nghi vấn là ma túy loại cần sa. Kết luận trưng cầu giám định số 6155/KL-KTHS ngày 06/5/2025 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận: 03 gói nylon chứa thảo mộc khô do Nguyễn Kim Đ giao nộp có khối lượng: m1 = 49,41 gam là cần sa (Gói 1); m2 = 49,58 gam là cần sa (Gói 2); m3 = 99,07 gam là cần sa (Gói 3) (bút lục số 292).

Qua truy xét, Cơ quan điều tra xác định đơn hàng thứ hai người nhận có tên Nguyễn Trọng K (sinh năm 1998); đơn hàng thứ ba do Nguyễn Đặng Mỹ D2 nhận hộ đơn cho Nguyễn Hồng A (H2 - sinh năm 1999) và đơn hàng thứ tư là của Nguyễn Trần Hải D (sinh năm 2002).

Quá trình điều tra Nguyễn Trọng K và Trần Nhật Đ1 khai nhận: Vào ngày 27/4/2025, K nhận tin nhắn qua Facebook của Trần Nhật Đ1 đặt mua cần sa với giá là 1.000.000 đồng. Khi nào có cần sa K sẽ liên lạc với Đ1 để giao cần sa trước địa chỉ số B H, Phường I, quận P (cũ) và thu tiền mặt khi nhận hàng. Đến khoảng 14 giờ 00 ngày 28/4/2025, thông qua mạng xã hội Facebook, K nhắn tin cho một người có tên Hoàng L, tài khoản “Hoang L” hỏi mua 50 gam cần sa và được báo giá 3.000.000 đồng yêu cầu chuyển khoản vào tài khoản 108868816386 ngân hàng V do N1 đứng tên, K đồng ý sử dụng tài khoản số 6868688411998 ngân hàng MB do K đứng tên chuyển tiền vào tài khoản trên số tiền 3.050.000 đồng (số tiền dư 50.000 đồng là K cho thêm L), hẹn giao cần sa bằng ứng dụng Ahamove vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 29/4/2025 tại địa chỉ số A P, Phường A, quận P (cũ). Đến khoảng 16 giờ 00 ngày 29/04/2025, K nhận được tin nhắn của shipper Nguyễn Kim Đ của ứng dụng Ahamove giao đồ, K biết đó là cần sa do K đặt nên yêu cầu anh Đ bỏ vào thùng nhựa không ai sử dụng được đặt bên phải nhà trọ địa chỉ số A P, Phường A, quận P (cũ) và chuyển tiền ship cho anh Đ 90.000 đồng. Do lúc này K đang bận dạy học bóng rổ nên điện thoại và nhắn tin thông qua ứng dụng Messenger nhờ bạn gái tên Nguyễn Đàm Bảo H1 (sinh năm 2002, sống chung với K tại nhà trọ trên) đi làm về lấy hộ đồ (cần sa) trong thùng nhựa, K cho H1 biết là thảo mộc khô (H1 biết thảo mộc khô là cần sa) và nhờ H1 sử dụng cân tiểu ly (có sẵn ở nhà) chia 11,5 gam cần sa đựng vào túi nylon rồi mang qua công viên G gần doanh trại quân đội giao cho Đ1 hộ K, K cung cấp số điện thoại của Đ1 cho H1. Đến gần khoảng 17 giờ cùng ngày, H1 đi làm về, kiểm tra trong thùng nhựa lấy một túi nylon đen chưa kịp mở ra kiểm tra thì Công an đến mời về làm việc. Đến khoảng 20 giờ 00 cùng ngày, K đi làm về đến nhà A P, Phường A, quận P (cũ) thì bị Công an P, quận P (cũ) mời về trụ sở Công an phường làm việc, lúc này K mới biết Công an đang tạm giữ một gói nylon chứa cần sa bên ngoài có thông tin của K. Tối ngày 29/4/2025, Trần Nhật Đ1 cũng vừa về đến nhà thì bị Công an P, quận P (cũ) mời về trụ sở Công an làm việc.

Ngoài ra, vào khoảng tháng 02/2025, K đã bán cần sa cho Đ1 với giá 1.000.000 đồng, thanh toán bằng tiền mặt. K cũng mua cần sa của L với giá 3.000.000 đồng (50 gam). K tự một mình cân chia ra 11,5 gam cần sa, đóng gói và giao ma túy cần sa cho Đ1 tại trước nhà số B H, Phường I, quận P (cũ) (đối diện doanh trại quân đội), lúc đó K đi cùng H1 trên xe taxi đi ăn tiệc ở quận G, K xuống xe đi qua đường liên hệ với Đ1 rồi đặt túi cần sa trước cửa nhà, sau đó quay lại xe. Hân ngồi trên xe và chỉ biết K đi đưa đồ cho bạn, không rõ là đồ gì và đưa cho ai (H1 và Đ1 không quen biết, chưa từng gặp nhau), sau khi K rời đi thì Đ1 xuống nhà lấy cần sa cất giữ trong nhà và để dành sử dụng một mình cho đến ngày 26/4/2025 sử dụng hết. Đông chỉ sử dụng cần sa một mình. K bán cần sa cho Đ1 được 02 lần, lần thứ nhất vào tháng 02/2025 và lần thứ hai vào ngày 28/4/2025 K chưa kịp giao cần sa cho Đ1 thì bị phát hiện bắt giữ, số tiền thu lợi bất chính là 310.000 đồng, K chỉ bán cần sa cho Đ1, ngoài ra không bán cho ai khác, Nguyễn Đàm Bảo H1 không tham gia bán cần sa với K.

Quá trình truy xét, xác định tài khoản “Hoang L” tên Nguyễn Ngọc Hoàng L đã bán ma túy cho Nguyễn Trọng K có khối lượng 50 gam cần sa với giá 3.000.000 đồng vào ngày 28/4/2025, K sử dụng tài khoản 6868688411998 ngân hàng MB do K đứng tên chuyển tiền vào tài khoản số 108868816386 ngân hàng V tên Nguyen N Hoang Lan với số tiền 3.050.000 đồng (3.000.000 đồng là tiền mua ma túy, số tiền 50.000 đồng còn lại K cho L), giao hàng dịch mua bán cần sa đến địa chỉ số A P, Phường A, quận P (cũ) vào ngày 28/04/2025.

Nguyễn Ngọc Hoàng L khai nhận: Vào khoảng cuối tháng 4/2025, K có tài khoản Facebook “Trọng K” liên hệ với L qua tài khoản Facebook của L tên “Hoang L” nhờ mua giúp ma túy cần sa với khối lượng 50 gam giá 3.000.000 đồng, do L và K quen nhau và biết L có sử dụng cần sa, L biết chỗ để liên hệ mua cần sa. K nói L giao ma túy cần sa đến địa chỉ số A P, Phường A, quận P (cũ). Sau đó, L lên hội nhóm kín về mua bán cần sa trên ứng dụng T5 (không nhớ tên). Khi thống nhất số lượng ma tuý và giá thì người bán cần sa yêu cầu chuyển tiền qua mã QR do người bán cần sa cung cấp. Sau khi chuyển tiền mua cần sa xong, L cung cấp địa chỉ, số điện thoại người nhận cần sa là K để người bán cần sa đặt xe giao cho K.Đến ngày 28/4/2025, L nhận tiền từ tài khoản ngân hàng M1 của Nguyễn Trọng K số 6868688411998 chuyển số tiền 3.050.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V1 tên Nguyễn Ngọc Hoàng L số 108868816386, trong đó 3.000.000 đồng là tiền mua ma túy và 50.000 đồng K cho L. L chỉ bán cần sa cho Nguyễn Trọng K một lần vào ngày 27/4/2025 như trên.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Ngọc Hoàng L tại nhà số D L, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến ma túy (bút lục số 347).

Lời khai của Nguyễn Trọng K và Nguyễn Ngọc Hoàng L mâu thuẫn về số lần mua bán ma túy, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho K và L đối chất K giữ nguyên lời khai của mình cụ thể: K khai nhận mua ma túy của L 02 lần (lần thứ nhất vào 24/02/2025, lần thứ hai vào ngày 28/4/2025), mỗi lần mua cần sa với giá 3.000.000 đồng, 50 gam cần sa, thanh toán tiền bằng hình thức chuyển khoản, cả hai lần mua cần sa của L thì K đều phân ra bán lại cho Trần Nhật Đ1 11,5 gam cần sa với giá 1.000.000 đồng, số cần sa còn lại K đã sử dụng hết, riêng lần thứ hai chưa kịp nhận cần sa từ L thì bị phát hiện. Nguyễn Ngọc Hoàng L xác nhận lời khai của K là đúng sự thật, L bán ma túy cho K 02 lần như lời khai của K, phù hợp với kết quả sao kê tài khoản ngân hàng của K và L. Lý do trước đây L chỉ khai nhận bán ma túy cần sa cho K 01 lần vào ngày 28/4/2025 là vì sợ nặng tội (bút lục số 333).

Nguyễn Trần Hải D (người nhận đơn hàng thứ tư) khai nhận: Thông qua mối quan hệ xã hội D quen biết 02 người nước ngoài tên Serious B và F (chưa rõ lai lịch) có số điện thoại 0778458803 cư trú tại S Vinhome Q (cũ) từ đầu tháng 3/2025. Qua ứng dụng WhatsApp, Serious B và F trò chuyện với D và cho biết có nhu cầu sử dụng cần sa. Do D từng biết tài khoản T5 có tên “Hoa Mặt Trời” có bán cần sa giá tốt nên D đã nảy sinh ý định đặt cần sa của H4 Mặt Trời bán lại cho Serious B để kiếm tiền lời. Sáng ngày 29/04/2025, Serious B đặt mua 100 gam cần sa, D báo giá là 7.500.000 đồng. D liên hệ tài khoản T5 “Hoa Mặt Trời” đặt mua 100 gam cần sa với giá 3.600.000 đồng và chuyển tiền mua cần sa đến số tài khoản 19037610555014 ngân hàng T7 do Nguyễn Xuân A1 đứng tên và đặt lịch giao cần sa vào lúc 15 giờ 00 cùng ngày tại S, Quận I (cũ). Số điện thoại liên lạc để shipper giao hàng là số của D 089.855.6310, khi giao hàng đến shipper sẽ gọi cho D và D sẽ liên lạc qua ứng dụng Whatapps cho Serious B để xuống nhận cần sa. Đến 15 giờ, D không thấy shiper giao hàng thì nhắn hỏi chủ tài khoản Telegram Hoa Mặt T6 sao lâu quá chưa thấy shipper giao tới, Hoa Mặt T6 cho biết đợi một chút. Đến khoảng 20 giờ 40 phút, shipper gọi lại cho D cho biết đang ở tòa S Vinhome Q (cũ), D nói qua tòa S6.01 đi rồi bạn xuống lấy, sau đó D gọi cho S qua ứng dụng W kêu đi xuống nhận cần sa, sau khi Serious B xuống và nhắn lại với D là không thấy shipper đâu hết. D gọi lại cho shipper thì shipper nói không giao cho người nước ngoài nên D gọi cho Serious B nói đi lên không nhận hàng nữa. Sau đó, D nhờ Mai Công T4 (bạn trai D) kết bạn Zalo với shipper, D cho T4 biết gặp shipper để lấy quần áo đi chơi lễ. Shipper hẹn D đến Bệnh viện N2, Quận E (cũ) để giao hàng, T4 chở D đến điểm hẹn shipper, trên đường đi thì bị Công an P, quận P (cũ) mời về trụ sở làm việc. D thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma tuý như trên, Mai Công T4 không biết và không liên quan đến việc bán ma tuý cần sa của D. D nhiều lần bán cần sa cho Serious B và F, giao dịch tiền mua bán ma túy bằng hình thức chuyển khoản. D bán cần sa cho Serious B vào ngày 23/12/2024 với số tiền 5.500.000 đồng, 50 gam cần sa; khoảng 01-02 tháng trước bán 100 gam với giá 7.500.000 đồng, D bán cần sa cho Fap ngày 26/02/2025, 30/3/2025, 05/3/2025 và 07/4/2025 mỗi lần nhận 5.500.000 đồng, cả hai thanh toán tiền mua ma túy bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng T8 tên Menreca B và tài khoản ngân hàng V số 101882613453 đứng tên vào tài khoản của D số 19073664726015 Ngân hàng T7.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trần Hải D tại địa chỉ số B D, phường R, Quận H (cũ) thu giữ 01 cân điện tử và 20 túi nylon nhỏ. D khai nhận số đồ vật này D mua về để phân chia ma túy để bán cho người khác nhưng chưa sử dụng.

Xét nghiệm ma túy, D âm tính ma túy.

Kết quả xác minh thuê bao số điện thoại 093.357.4990 (đơn hàng thứ hai người nhận tên H2) do Nguyễn Hồng A (sinh năm 1999) đứng tên đăng ký. Kết quả xác minh Hồng A và gia đình không sinh sống tại địa phương, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm đối với Hồng A bút lục số 422, 427)

Nguyễn Đặng Mỹ D2 khai nhận: Khoảng 14 giờ hơn ngày 29/4/2025, Nguyễn Hồng A (thường gọi là H2) có facebook tên Nguyen Hong A2 nhắn tin cho D2 nhờ nhận dùm gói hàng cần sa giúp, D2 không đồng ý. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Hồng A đến nhà trọ của D2 địa chỉ số I Đường I, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh chơi và cho D2 một điếu cần sa để sử dụng, Hồng A tiếp tục nhờ D2 nhận cần sa hộ nhưng D2 tiếp tục từ chối. D2 sử dụng hết điếu cần sa Hồng A cho. Đến khoảng 18 giờ 50 phút cùng ngày 29/4/2025, Hồng A gọi điện thoại qua facebook Nguyen Hong A2 cho D2 hối thúc D2 ra nhận hàng quần áo giúp (D2 biết hàng nhận là cần sa), Hồng A cho biết shipper đang đứng ở đầu đường, D2 đã đồng ý đi ra để nhận hàng giúp. Khi đang trên đường ra gặp shipper thì Công an đến mời về trụ sở Công an phường H để làm việc, sau đó đưa D2 về Công an P, quận P (cũ) để làm việc, D2 mới biết gói hàng cần sa mà Hồng A nhờ nhận giúp đang bị cơ quan Công an tạm giữ (bút lục số 438-440).

Xét nghiệm ma tuý, kết quả Nguyễn Đặng Mỹ D2 dương tính THC.

Qua truy xét, Công an phường T, Quận A (cũ) bắt giữ Nguyễn Trần Bảo L2 (sinh năm 2003) về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy loại cần sa”.

Nguyễn Trần Bảo L2 khai nhận: Ngày 29/4/2025, L2 truy cập vào nhóm “SG KHO TỔNG PHỤ - 2” trên mạng xã hội Telegram để xem có đơn hàng khách cần mua cần sa, L2 nhận đơn theo thông tin của nhân viên “Chăm sóc khách hàng” (là thành viên trong nhóm SG KHO TỔNG PHỤ - 2). L2 thực hiện việc cân và đóng gói các đơn hàng theo yêu cầu của nhân viên “Chăm sóc khách hàng”. Cụ thể vào ngày 29/4/2025, L2 đã nhận giao 04 đơn hàng cho các khách như sau:

1/ Địa chỉ số B, Đường B N, Phường A, quận G (cũ), túi nylon chứa chất ma tuý loại cần sa.

2/ Địa chỉ số A P, Phường A, phường P (cũ), Thành phố Hồ Chí Minh, túi nylon chứa chất ma tuý loại cần sa.

3/ Địa chỉ số C Đường I, phường T, thành phố T, túi nylon chứa chất ma tuý cần sa.

4/ Địa chỉ Vinhome G, Origami S, đường C, Phường L, thành phố T.

Cả 04 đơn hàng trên L2 là người trực tiếp đóng gói và cất giấu cần sa vào các hộp carton, túi nylon và quần áo cũ để ngụy trang (loại quần áo cũ chuẩn bị sẵn, tránh bị người nhận giao hàng phát hiện). L2 không biết người đặt là ai vì người đặt thông qua nhiều cộng tác viên khác nhau, sau đó gửi địa chỉ, số lượng, số điện thoại cho L2 để lên đơn ship hàng.

Nguồn gốc 04 gói ma tuý loại cần sa trên mà L2 giao cho khách là do L2 nhận được từ người dùng mạng xã hội tên tài khoản “@obitobaco” (chưa rõ lai lịch) vào các ngày 14/4/2025 tại địa chỉ B, đường T, khu phố B, phường T, Quận A (cũ); ngày 19/4/2025 tại địa chỉ B, đường L, khu phố G, phường T, Quận A (cũ) và ngày 26/4/2025 tại địa chỉ 216 – 218, đường T, phường T, Quận A (cũ). Ma túy cần sa L2 mua về cất giấu tại trọ không số, địa chỉ 4 L, khu phố A, phường T, Quận A (cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 09/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Trần Bảo L2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cơ quan điều tra không tiếp tục xử lý Bảo L2 trong vụ án này (bút lục số 373).

Đối với đơn hàng thứ nhất tên Thương H3, số điện thoại 039.816.6045, nơi nhận địa chỉ số 220 Nguyễn Văn Lượng, Phường 16, quận Gò Vấp (cũ) (đã giao hàng thành công). Kết quả xác minh số điện thoại trên do Dương Huy L3 (sinh năm 2003) đứng tên đăng ký. Kết quả xác minh, L3 không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì không rõ. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm đối với L3 (bút lục số 466).

Vật chứng vụ án:

- Toàn bộ số cần sa thu giữ được thể hiện tại Kết luận giám định số 6155/KL-KTHS ngày 06/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh

- Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Lê Thị Hằng và cán bộ điều tra Lê Văn Vàng gồm (bút lục số 293):

+ Phần còn lại của mẫu m1 có khối lượng 47,78 gam.

+ Phần còn lại của mẫu m2 có khối lượng 46,26 gam.

+ Phần còn lại của mẫu m3 có khối lượng 94,88 gam.

- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda AirBlade màu đen, biển số: 59F2-378.09; số khung: RLHJF6337NZ624439; số máy: JF94E-0490432, thu giữ của Nguyễn Trọng K. Kết quả xác minh, xe do Nguyễn Tấn T8 (sinh năm 2000). T8 cho biết xe trên mua vào tháng 4/2022. Đến đầu năm 2025, T8 cho K mượn chiếc xe trên để sử dụng, T8 không biết K mua bán cần sa và xin nhận lại xe. Ngày 03/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định xử lý vật chứng số B2132/QĐ-CSMT bằng hình thức trả xe trên cho Nguyễn Tấn T8 (bút lục số 421, 430, 361).

- 01 (một) điện thoại di động màu vàng hiệu Iphone 11 Pro, số IMEI 353248103482376, thu giữ của Nguyễn Đặng Mỹ D2. Qua kiểm tra, có các nội dung tin nhắn với tài khoản Facebook tên Nguyễn Hồng A về việc nhận giúp gói ma túy cần sa.

- 01 (một) điện thoại di động màu xanh dương hiệu Iphone 12 Pro, số IMEI 356740914149985, thu giữ của Nguyễn Trọng K. Qua kiểm tra, có các đoạn tin nhắn với tài khoản của Nguyễn Đàm Bảo H1 về việc nhờ Hân lấy gói ma túy cần sa, phân chia và đi giao giúp cho K.

- 01 (một) điện thoại di động màu xanh rêu Iphone 11 Pro Max, số IMEI 353900101387516, thu giữ của Nguyễn Trần Hải D. Qua kiểm tra, có các nội dung tin nhắn của D liên quan đến việc mua bán ma túy cần sa.

- 01 (một) điện thoại di động màu xanh dương Iphone 13 Pro max, số IMEI 359481986631348, thu giữ của Nguyễn Đàm Bảo H1. Qua kiểm tra, có nội dung tin nhắn với Nguyễn Trọng K về việc K nhờ H1 lấy gói ma túy cần sa, phân chia và đi giao giúp cho K.

- 01 (một) cân tiểu ly màu xám bạc là của Nguyễn Trọng K dùng vào việc cân, phân chia ma túy cần sa để bán.

- 01 (một) cân tiểu ly màu trắng, thu của Nguyễn Trần Hải D, D mua về để phân chia ma túy bán cho người khác.

- 20 (hai mươi) túi nylon chưa qua sử dụng, thu của Nguyễn Trọng K, K sử dụng để đựng cần sa bán cho người khác.

- 20 (hai mươi) túi nylon chưa qua sử dụng, thu của Nguyễn Trần Hải D, D sử dụng để đựng cần sa bán cho người khác.

- 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Iphone có số IMEI: 352843113967209, thu của Nguyễn Ngọc Hoàng L.

Cáo trạng số 252/CT-VKSKV5 ngày 02/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Trọng K, Nguyễn Trần Hải D và Nguyễn Ngọc Hoàng L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Trọng K, Nguyễn Trần Hải D và Nguyễn Ngọc Hoàng L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điều 15; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025) xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng K từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025) xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Hải D từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025) xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Hoàng L từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Phạt bổ sung mỗi bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng:

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Lê Thị Hằng và cán bộ điều tra Lê Văn Vàng gồm (bút lục số 293):

+ Phần còn lại của mẫu m1 có khối lượng 47,78 gam.

+ Phần còn lại của mẫu m2 có khối lượng 46,26 gam.

+ Phần còn lại của mẫu m3 có khối lượng 94,88 gam.

- 01 (một) cân tiểu ly màu xám bạc, thu của Nguyễn Trọng K dùng vào việc cân, phân chia ma túy cần sa để bán.

- 01 (một) cân tiểu ly màu trắng, thu của Nguyễn Trần Hải D, D mua về để phân chia ma túy bán cho người khác.

- 20 (hai mươi) túi nylon chưa qua sử dụng, thu của Nguyễn Trọng K, K sử dụng để đựng cần sa bán cho người khác.

- 20 (hai mươi) túi nylon chưa qua sử dụng, thu của Nguyễn Trần Hải D, D sử dụng để đựng ma túy cần sa bán cho người khác.

- Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động màu vàng hiệu Iphone 11 Pro, số IMEI 353248103482376, thu giữ của Nguyễn Đặng Mỹ D2.

- 01 (một) điện thoại di động màu xanh dương hiệu Iphone 12 Pro, số IMEI 356740914149985, thu giữ của Nguyễn Trọng K.

- 01 (một) điện thoại di động màu xanh rêu Iphone 11 Pro Max, số IMEI 353900101387516, thu giữ của Nguyễn Trần Hải D.

- 01 (một) điện thoại di động màu xanh dương Iphone 13 Pro max, số IMEI 359481986631348, thu giữ của Nguyễn Đàm Bảo H1.

- 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Iphone có số IMEI: 352843113967209, thu giữ của Nguyễn Ngọc Hoàng L.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trọng K trình bày ý kiến: Thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội của bị cáo. Bị cáo có mối quan hệ là bạn bè với bị cáo L và Đ1, bị cáo mua cần sa của L với mục đích là để sử dụng và chia sẻ lại cần sa cho bạn là Đ1. Bị cáo không nhận thức được cần sa là một dạng ma túy. Bị cáo hiện đang là sinh viên, đạt nhiều thành tích trong học tập và thể thao, bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 đã truy tố. Các bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Các bị cáo không tranh luận và lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có căn cứ để kết luận như sau:

Nguyễn Trọng K đã có hành vi bán cần sa cho Trần Nhật Đ1 02 lần vào ngày 24/02/2025 và ngày 28/4/2025, mỗi lần bán với giá 1.000.000 đồng với khối lượng 11,5 gam cần sa. Số cần sa có được là do K mua của Nguyễn Ngọc Hoàng L với giá 3.000.000 đồng với khối lượng 50 gam, sau khi mua cần sa của L, K tự phân chia và bán lại cho Đông 11,5 gam cần sa (tương đương tiền vốn mua là 690.000 đồng), K hưởng lợi số tiền 310.000 đồng, số cần sa còn lại (38,5 gam cần sa) K dùng để sử dụng một mình, Tuy nhiên, lần thứ hai K đặt mua ma túy cần sa của L để bán cho Đông nhưng chưa kịp nhận và giao cho Đông thì bị Công an phát hiện.

Nguyễn Trần Hải D đã có hành vi nhiều lần bán ma túy cần sa cho các đối tượng có tài khoản Whatapps tên “Serious Be” và “Fap”, thể hiện qua các giao dịch chuyển tiền qua ngân hàng và nội dung tin nhắn mua bán ma túy. Ngoài ra, ngày 29/4/2025, D đặt mua 99,07gam cần sa từ tài khoản “Hoa mặt trời” cung cấp địa chỉ Vinhomes Grand Park Origami, S6.01, tầng 3, phường Long Bình, thành phố Thủ Đức (cũ) để giao cho đối tượng tên “Serious Be” tuy nhiên chưa giao được thì bị Công an phát hiện. Tổng số tiền bị cáo D thu lợi bất chính là 27.500.000 đồng.

Nguyễn Ngọc Hoàng L đã có hành vi bán cần sa cho Nguyễn Trọng K 02 lần vào các ngày 24/02/2025 và 28/4/2025, mỗi lần bán với giá 3.000.000 đồng với khối lượng 50 gam cần sa, thanh toán tiền mua cần sa bằng hình thức chuyển khoản, mỗi lần bán cần sa cho K thì L được K chuyển thêm 50.000 đồng tiền công, thu lợi bất chính là 100.000 đồng. Tuy nhiên, lần thứ hai L bán cần sa cho K đang trên đường giao đến cho K thì bị Công an phát hiện.

Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Nguyễn Trọng K, Nguyễn Trần Hải D và Nguyễn Ngọc Hoàng L đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025).

Hành vi của Nguyễn Trọng K, Nguyễn Trần Hải D và Nguyễn Ngọc Hoàng L là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với các bị can và răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025) để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo để sung vào Ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025.

[6] Đối với Nguyễn Trần Bảo L2 là người nhận đơn hàng ma túy cần sa trên mạng xã hội Telegram, trực tiếp đóng gói và đặt xe giao ma túy cho nhân viên giao hàng Ahamove Nguyễn Kim Đ để giao ma túy đến cho Nguyễn Trọng K, Nguyễn Đặng Mỹ Duyên và người mua ma túy của Nguyễn Trần Hải D bán ngày 29/04/2025. Hiện nay, Lâm đang bị khởi tố và điều tra trong một án mua bán trái phép chất ma túy khác nên không xem xét xử lý trong vụ án này.

[7] Đối với Trần Nhật Đông mục đích mua cần sa của Nguyễn Trọng K để sử dụng một mình, chưa nhận được cần sa đặt mua, cũng như chưa thanh toán tiền mua cần sa. Xét nghiệm ma túy, Đông dương tính với ma túy loại THC. Ngày 13/5/2025, Ủy ban nhân dân Phường 15, quận Phú Nhuận (cũ) ra quyết định xử phạt hành chính đối với Đông về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

[8] Đối với Nguyễn Đàm Bảo Hân biết K có cất giữ cần sa tại phòng trọ nhưng Hân không chứng kiến việc K sử dụng ma túy cần sa và không biết K mua bán cần sa cho người khác và không tham gia giúp sức cho K trong việc mua bán ma túy. Vì vậy chưa đủ cơ sở để xử lý Hân về hành vi mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm với K là có căn cứ.

[9] Đối với Nguyễn Đặng Mỹ Duyên là người nhận giúp gói ma túy cần sa cho đối tượng tên “Huy” có khối lượng 49,58 gam cần sa, Duyên biết hàng nhận giúp là ma túy cần sa, tuy nhiên Duyên chưa nhận được. Hiện nay, chưa xác minh được đối tượng tên “Huy” nên chưa rõ mục đích sử dụng gói ma túy cần sa; chưa rõ mối quan hệ của Duyên và tên “Huy” có liên quan đến hoạt động mua bán trái phép chất ma túy hay không, khối lượng cần sa không đủ định lượng cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết quả xét nghiệm ma túy Duyên dương tính với ma túy loại THC. Ngày 13/5/2025, Ủy ban nhân dân Phường 15, quận Phú Nhuận (cũ) ra quyết định xử phạt hành chính đối với Duyên về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (bút lục số 449).

[10] Qua xác minh số điện thoại 039.816.6045 (thông tin người nhận đơn hàng thứ nhất) do Dương Huy L3 (sinh năm 2003) đứng tên đăng ký. Kết quả xác minh, L3 không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì không rõ. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm đối với L3, khi nào làm việc được có căn cứ sẽ xử lý sau.

[11] Đối với tài khoản “Hoa Mặt Trời” bán cần sa cho Nguyễn Trần Hải D, Ezenduka J I, Menreca B S chưa xác định được lai lịch. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được có căn cứ sẽ xử lý sau.

[12] Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền các bị cáo mua bán ma túy thu lợi bất chính cần tuyên buộc các bị cáo nộp lại số tiền này.

- Đối với 01 gói niêm phong bên ngoài có ký hiệu 1964 (6155/25 và các chữ ký ghi tên của Lê Thị Hằng (Giám định viên) và Lê Văn Vàng (CBĐT). Bên trong là mẫu vật còn lại sau khi phục vụ giám định: m1 có khối lượng 47,78g; m2 có khối lượng 46,26g, m3 có khối lượng 94,88g là vật cấm cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 cân tiểu ly màu trắng; 01 cân tiểu ly màu xám bạc; 20 túi nylon chưa qua sử dụng; 20 túi nylon chưa qua sử dụng là các vật dụng liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động màu vàng hiệu Iphone 11 Pro thu giữ của Nguyễn Đặng Mỹ D2; 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Iphone có số IMEI: 352843113967209, thu của Nguyễn Ngọc Hoàng L; 01 (một) điện thoại di động màu xanh dương hiệu Iphone 12 Pro thu giữ của Nguyễn Trọng K; 01 (một) điện thoại di động màu xanh rêu Iphone 11 Promax thu giữ của Nguyễn Trần Hải D; 01 (một) điện thoại di động màu xanh dương Iphone 13 Promax thu giữ của Nguyễn Đàm Bảo H1 sử dụng vào việc liên lạc để nhận và mua bán ma túy cần tịch thu sung ngân sách nhà nước;

[13] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng K: 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2025.

2. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Hải D: 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2025.

3. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Hoàng L: 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2025.

Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Trọng K, Nguyễn Trần Hải D và Nguyễn Ngọc Hoàng L, mỗi bị cáo nộp phạt số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung Ngân sách Nhà nước.

4. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Buộc bị cáo Nguyễn Trọng K phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 310.000 (Ba trăm mười nghìn) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Buộc bị cáo Nguyễn Trần Hải D phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 27.500.000 (Hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Hoàng L phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 100.000 (Một trăm nghìn) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài có ký hiệu 1964 (6155/25 và các chữ ký ghi tên của Lê Thị Hằng (Giám định viên) và Lê Văn Vàng (CBĐT). Bên trong là mẫu vật còn lại sau khi phục vụ giám định: m1 có khối lượng 47,78g; m2 có khối lượng 46,26g, m3 có khối lượng 94,88g; 01 cân tiểu ly màu trắng; 01 cân tiểu ly màu xám bạc; 20 túi nylon chưa qua sử dụng; 20 túi nylon chưa qua sử dụng.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động màu xanh dương hiệu Iphone 12 Pro; 01 (một) điện thoại di động màu đen hiệu Iphone; 01 (một) điện thoại di động màu xanh rêu Iphone 11 Pro Max; 01 (một) điện thoại di động màu xanh dương Iphone 13 Pro max; 01 (một) điện thoại di động màu vàng hiệu Iphone 11 Pro.

(Vật chứng trên đang giữ tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định chuyển vật chứng số 252/QĐ-VKSKV5 ngày 02/4/2026 và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/5/2026 giữa Công an Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh).

5. Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ