vanban.org

Bản án 198/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: QIN H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 06 (sáu) t…

Trục xuất QIN H ra khỏi lãnh thổ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngay sau khi chấp hành xong hình phạt tù. Xử phạt: CHEN X 04 (bốn) năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "QIN H - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: QIN H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 06 (sáu) t…
  • Căn cứ chính? Điều 290 Bộ luật Hình sự; Luật phí và lệ phí Tòa án; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 198/2026/HS-ST
Ngày: 16/4/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Hồng Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Hằng

2. Ông Bùi Quang Vinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Tín - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm số 252/2025/HSST ngày 24/10/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2026/QĐXXST-HS ngày 25/02/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2026/HSST-QĐ ngày 26/3/2026 đối với các bị cáo:

1. QIN H; Giới tính: Nam; Sinh năm 1974 tại Trung Quốc; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Q, Trung Quốc; Chỗ ở trước khi bị bắt: Phòng 401, khách sạn K, số I đường A, Phường A, Quận E (nay là phường C), Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Trung Quốc; Dân tộc: Hán; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Quin G và bà Wei Jin P; chưa có vợ, con; Tiền án; Không có; Tiền sự: Không có.

Bị tạm giữ, tạm giam ngày 03/4/2024.

(có mặt)

2. CHEN X; Giới tính: Nam; Sinh năm 1964 tại Trung Quốc; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Q, Trung Quốc; Chỗ ở trước khi bị bắt: Phòng 401, khách sạn K, số I đường A, Phường A, Quận E (nay là phường C), Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Trung Quốc; Dân tộc: Hán; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Chen Zhong G1 và bà WeiYu M; chưa có vợ, con; Tiền án: Không có; Tiền sự: Không có;

Bị tạm giữ, tạm giam ngày 03/4/2024.

(có mặt)

Bị hại:

- Ông MATSUSHITA I, sinh năm 1973

Nơi ở hiện tại: Phòng 1505, S, S, I N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(có đơn xin vắng mặt)

- Ông NAKAYAMA M1, sinh năm 1975

Nơi ở hiện tại: Căn hộ A, Block T, M, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(có đơn xin vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Công ty TNHH T

Trụ sở: Số B L, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

- Công ty TNHH G2

Trụ sở: T, số B H, phường H, thành phố Hà Nội.

(vắng mặt)

- Cửa hàng Đồng hồ T

Trụ sở: số A Đ, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

Người phiên dịch cho các bị cáo: Bà Trần Thị Tú A-Công ty TNHH T1.

(có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/3/2024, QIN H và CHEN X nhập cảnh vào Việt Nam bằng đường bộ từ Trung Quốc qua cửa khẩu M2, tỉnh Quảng Ninh. Sau đó, QIN H và CHEN X đi máy bay đến Thành phố Hồ Chí Minh, cư trú tại Phòng 401 khách sạn “K”, địa chỉ số I A, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi đến Thành phố Hồ Chí Minh, QIN H nói với CHEN X làm theo hướng dẫn của QIN H là sử dụng thẻ tín dụng ngân hàng do QIN H đưa, CHEN X sẽ sử dụng đi mua hàng và thanh toán, rồi QIN H đem bán những sản phẩm CHEN X mua được, chia tiền cho CHEN X tiêu xài, thì CHEN X đồng ý. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 26/3/2024, QIN H và CHEN X đi bộ trên đường T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến trước nhà số H T, phường B, Quận A, thì QIN H phát hiện ông MATSUSHITA I (quốc tịch Nhật Bản) có đeo 01 túi đeo chéo phía sau lưng nhưng không kéo dây kéo, bên trong túi có 01 chiếc ví màu nâu, nên liền áp sát ông MATSUSHITA I và dùng tay phải lấy chiếc ví trong túi của ông MATSUSHITA I, rồi rời đi. Sau khi lấy được chiếc ví của ông MATSUSHITA I, QIN H mở ra kiểm tra, thì thấy bên trong có 02 thẻ ngân hàng và số tiền là 9.900.000 đồng tiền Việt Nam, cùng một số giấy tờ cá nhân của ông MATSUSHITA I. Lúc này, QIN H lấy số tiền 9.900.000 đồng và 02 thẻ Ngân hàng, rồi vứt cái ví của ông MATSUSHITA I ngoài đường (không nhớ nơi vứt, không thu hồi dược). Sau đó, QIN H đưa cho CHEN X 02 thẻ Ngân hàng của ông MATSUSHITA I và hướng dẫn CHEN X đến Cửa hàng đồng hồ “T", số A Đ, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh mua đồng hồ, cụ thể: CHEN X sử dụng thẻ Master số 5119570067798115 để thanh toán mua 01 đồng hồ hiệu Citizen mặt tròn màu đen với giá là 12.600.000 đồng và 01 đồng hồ hiệu Citizen mặt tròn màu trắng với giá là 12.100.000 đồng; CHEN X sử dụng thẻ Visa số 4111530070600121, để thanh toán mua đồng hồ hiệu Rado với giá là 31.625.000 đồng, tổng số tiền CHEN X sử dụng 02 thẻ ngân hàng của ông MATSUSHITA I để thanh toán tiền mua hàng là 56.325.000 đồng. Sau khi mua được 03 cái đồng hồ trên, CHEN X đưa cho QIN H đem về khách sạn cất giấu trong vali của QIN H.

Ông MATSUSHITA I sau khi về đến nhà, thì phát hiện mất 01 chiếc ví màu nâu bên trong túi xách. Một lúc sau, ông MATSUSHITA I nhận được tin nhắn từ Ngân hàng thông báo tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ1 (B) của ông MATSUSHITA I bị trừ tiền do mua hàng tại cửa hàng Đồng hồ "T". Ngày 27/3/2024, ông MATSUSHITA I đến Công an phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đề trình báo.

Ngày 28/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an A, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra Phòng 401 khách sạn “K”, thì phát hiện QIN H, CHEN X đang lưu trú tại đây và thu giữ 02 dây thắt lưng màu đen hiệu Gucci và 04 đồng hồ, gồm các hiệu Longines, Rado và Citizen trong vali của QIN H. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an A đưa QIN H và CHEN X về trụ sở để lấy lời khai làm rõ.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an A và Công an Thành phố H, QIN H và CHEN X khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.

Ngoài ra quá trình điều tra, CHEN X còn khai nhận ngày 19/3/2024, QIN H đưa cho CHEN X 02 thẻ Ngân hàng mang tên NAKAYAMA M1 (quốc tịch Nhật Bản) để CHEN X đi mua hàng theo hướng dẫn của QIN H, cụ thể như sau: Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày 19/3/2024, CHEN X đem 02 thẻ Ngân hàng đến cửa hàng Đ tại tầng M 27-28 Trung tâm thương mại V, địa chỉ số G L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để mua hàng. Tại đây, CHEN X sử dụng thẻ D-card của ông NAKAYAMA M1 để thanh toán mua 01 đồng hồ hiệu LONGINES với giá là 40.250.000 đồng. Sau đó, CHEN X tiếp tục đến cửa hàng G3 gần đó sử dụng thẻ Ngân hàng V1 tên NAKAYAM để thanh toán mua 02 dây thắt lưng hiệu Gucci với giá là 40.000.000 đồng, tổng số tiền, CHEN X thanh toán mua hàng bằng 02 thẻ ngân hàng của ông NAKAYAMA M1 là 80.250.000 đồng. Sau khi mua hàng xong, CHEN X đem về khách sạn cất giấu. Tuy nhiên, QIN H không thừa nhận đã đưa 02 thẻ Ngân hàng của ông NAKAYAMA M1 cho CHEN X đi mua hàng.

Ngày 27/3/2024, ông NAKAYAMA M1 đến Công an phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để trình báo về việc mất tiền trong tài khoản.

Tại Kết luận định giá tài sản số 163/KL-HĐĐGTS ngày 23/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 ví bằng da màu nâu, qua sử dụng, chưa thu hồi, trị giá là 100.000 đồng.

Vật chứng của vụ án:

* Thu giữ của QIN H:

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo (không kiểm tra được đời máy, I1 do không có nguồn điện, không kiểm tra được tình trạng hoạt động máy móc bên trong) là tài sản của bị cáo QIN H;

- 01 (một) áo thun ngắn tay màu trắng, 01 (một) quần dài màu đen, 01 (một) bóp da màu đen và 01 (một) cặp xách màu đen là trang phục và tài sản của bị cáo QIN H;

- Số tiền 9.900.000 đồng là số tiền bị cáo trộm của ông MATSUSHITA I.

- 01 vali màu xanh bên trong có các tài sản gồm: 01 (một) dây thắt lưng màu đen bên trong hộp giấy màu xanh có ghi chữ Gucci, 01 (một) dây thắt lưng màu đen bên trong hộp giấy màu xanh có ghi chữ Gucci, số 473030, 01 (một) đồng hồ đeo tay màu trắng dây da màu đen hiệu LONGINES bên trong hộp màu xanh, 01 (một) đồng hồ đeo tay màu trắng hiệu RADO bên trong hộp đen, 01 (một) đồng hồ đeo tay màu trắng vàng hiệu CITZEN bên trong hộp màu vàng và 01 (một) đồng hồ đeo tay màu trắng vàng hiệu CITZEN bên trong hộp màu nâu.

* Thu giữ của CHEN X:

- 01 (một) điện thoại di động Redmi Note9 Pro (không kiểm tra được đời máy, I1 do không có nguồn điện, không kiểm tra được tình trạng hoạt động máy móc bên trong) là tài sản của bị cáo CHEN X;

- 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, 01 (một) quần dài màu đen, 01 (một) cặp xách màu đen và 01 (một) nón vải màu trắng là trang phục và tài sản của CHEN X.

Về trách nhiệm dân sự:

- Ông MATSUSHITA I yêu cầu bồi thường số tiền là 56.325.000 đồng và số tiền 9.900.000 đồng;

- Ông NAKAYAMA M1 yêu cầu bồi thường số tiền là 80.250.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 24/CT-VKS-P2 ngày 16/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo QIN H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và CHEN X về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b, điểm đ khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, các bị cáo có lời khai phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, nên xin Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo QIN H và CHEN X theo Bản cáo trạng số 24/CT-VKS-P2 ngày 16/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị xử phạt bị cáo QIN H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù và bị cáo CHEN X từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo QIN H, CHEN X bồi thường cho ông MATSUSHITA I, cụ thể: bị cáo QIN H bồi thường số tiền là 28.162.000 đồng và bị cáo CHEN X bồi thường số tiền là 28.162.000 đồng; Buộc bị cáo CHEN X bồi thường cho ông NAKAYAMA M1 số tiền là 80.250.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Trả lại cho ông MATSUSHITA I số tiền là 9.900.000 đồng; Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) đồng hồ đeo tay màu trắng hiệu RADO bên trong hộp đen, 01 (một) đồng hồ đeo tay màu trắng vàng hiệu CITZEN bên trong hộp màu vàng, 01 (một) đồng hồ đeo tay màu trắng vàng hiệu CITZEN bên trong hộp màu nâu, 01 (một) dây thắt lưng màu đen bên trong hộp giấy màu xanh có ghi chữ Gucci, 01 (một) dây thắt lưng màu đen bên trong hộp giấy màu xanh có ghi chữ Gucci, số 473030 và 01 (một) đồng hồ đeo tay màu trắng dây da màu đen hiệu LONGINES bên trong hộp màu xanh; Trả lại cho QIN H 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo; Trả lại cho CHEN X 01 (một) điện thoại di động Redmi Note9 Pro; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo thun ngắn tay màu trắng, 01 (một) quần dài màu đen, 01 (một) bóp da màu đen, 01 (một) cặp xách màu đen, 01 vali màu xanh, 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen; 01 (một) quần dài màu đen; 01 (một) cặp xách màu đen, 01 (một) nón vải màu trắng và 01 va li màu xanh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, qua lời khai của các bị cáo đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 26/3/2024, tại trước nhà số H, đường T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, QIN H có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 cái ví màu nâu trị giá là 100.000 đồng và số tiền 9.900.000 đồng, cùng 02 thẻ tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ1 của ông MATSUSHITA I. Sau khi lấy trộm số tiền trong ví của ông MATSUSHITA I, QIN H đưa 02 thẻ ngân hàng của ông MATSUSHITA I cho CHEN X. CHEN X sử dụng 02 thẻ này để thanh toán mua hàng gồm: 01 đồng hồ hiệu Citizen mặt tròn màu đen với giá là 12.600.000 đồng, 01 đồng hồ hiệu Citizen mặt tròn màu trắng với giá là 12.100.000 đồng và 01 đồng hồ hiệu Rado với giá là 31.625.000 đồng tại cửa hàng Đồng hồ T, tại số A Đ, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, với tổng số tiền là 56.325.000 đồng, toàn bộ sản phẩm mua được CHEN X đưa cho QIN H. Ngoài ra, CHEN X khai nhận còn sử dụng 02 thẻ ngân hàng mang tên ông NAKAYAMA M1 (trong đó có 01 thẻ D-card và 01 thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần N2), CHEN X sử dụng thanh toán mua 01 đồng hồ hiệu Longines với giá là 40.250.000 đồng và 02 dây thắt lưng hiệu Gucci với giá là 40.000.000 đồng, tổng cộng là 80.250.000 đồng. Do đó, tổng số tiền CHEN X chiếm đoạt của ông MATSUSHITA I và ông NAKAYAMA M1 là 136.575.000 đồng.

Mặc dù, CHEN X khai nhận 02 thẻ ngân hàng của ông NAKAYAMA M1 là do QIN H đưa cho CHEN X, nhưng QIN H không thừa nhận, chỉ có lời khai của CHEN X, ngoài ra không có chứng cứ nào khác thể hiện QIN H đưa 02 thẻ ngân hàng của ông NAKAYAMA M1 cho CHEN X để CHEN X thanh toán mua hàng rồi chiếm đoạt, nên không có căn cứ để xử lý đối với QIN H về việc chiếm đoạt số tiền trong 02 thẻ ngân hàng của ông NAKAYAMA M1.

Từ những nhận định nêu trên, có đủ cơ sở xác định hành vi của QIN H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo CHEN X phạm tội về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b, điểm đ khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cho nên, truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.

Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện phạm tội đến cùng. Xét trong vụ án này, ngoài hành vi “Trộm cắp tài sản” của bị cáo QIN H, thì hành vi “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” của các bị cáo đối với ông MATSUSHITA I mang tính chất đồng phạm giản đơn, theo đó bị cáo QIN H đưa cho CHEN X thẻ ngân hàng của ông MATSUSHITA I và CHEN X đã sử dụng thẻ này để thanh toán mua hàng nhằm chiếm đoạt tài sản của ông MATSUSHITA I. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng hình phạt tương xứng với vai trò, nhân thân của từng bị cáo mới đủ sức để răn đe, giáo dục các bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên khi lượng hình cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

- Ông MATSUSHITA I yêu cầu bồi thường số tiền là 9.900.000 đồng và số tiền 56.425.000 đồng, Hội đồng xét xử xét số tiền là 9.900.000 đồng bị cáo QIN H đã trộm của ông MATSUSHITA I, nhưng chưa sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra, đã thu hồi giao nộp kho bạc Nhà nước, nên số tiền 9.900.000 đồng sẽ được trả lại cho ông MATSUSHITA I. Đối với số tiền 56.425.000 đồng là theo kết quả định giá các tài sản mà CHEN X sử dụng thẻ ngân hàng của ông MATSUSHITA I do bị cáo QIN H đã đưa để cùng nhau chiếm đoạt tài sản, tại phiên tòa các bị cáo đồng ý, mỗi bị cáo bồi thường ½ số tiền 56.425.000 đồng cho ông MATSUSHITA I, nên cần buộc các bị cáo bồi thường cho ông MATSUSHITA I, cụ thể: bị cáo QIN H bồi thường số tiền là 28.162.000 đồng và bị cáo CHEN X bồi thường số tiền là 28.162.000 đồng;

- Ông NAKAYAMA M1 yêu cầu bồi thường số tiền là 80.250.000 đồng, Hội đồng xét xử xét CHEN X sử dụng thẻ ngân hàng của ông NAKAYAMA M1 để thanh toán mua các sản phẩm với số tiền là 80.250.000 đồng, nên cần tuyên buộc bị cáo CHEN X bồi thường cho ông NAKAYAMA M1 số tiền là 80.250.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

- Số tiền 9.900.000 đồng, xét đây là số tiền bị cáo QIN H đã trộm của ông MATSUSHITA I, nên cần trả lại cho ông MATSUSHITA I (như nhận định nêu trên);

- 01 (một) đồng hồ đeo tay màu Trắng hiệu RADO bên trong hộp đen, 01 (một) đồng hồ đeo tay màu trắng vàng hiệu CITZEN bên trong hộp màu vàng, 01 (một) đồng hồ đeo tay màu trắng vàng hiệu CITZEN bên trong hộp màu nâu, 01 (một) dây thắt lưng màu đen bên trong hộp giấy màu xanh có ghi chữ Gucci, 01 (một) dây thắt lưng màu đen bên trong hộp giấy màu xanh có ghi chữ Gucci, số 473030 và 01 (một) đồng hồ đeo tay màu trắng dây da màu đen hiệu LONGINES bên trong hộp màu xanh, xét đây là các tài sản, các bị cáo bị cáo có được từ hành vi phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo (không kiểm tra được đời máy, I1 do không có nguồn điện, không kiểm tra được tình trạng hoạt động máy móc bên trong), là điện thoại của QIN H để liên lạc với gia đình, nên cần trả lại cho bị cáo QIN H;

- 01 (một) áo thun ngắn tay màu trắng, 01 (một) quần dài màu đen, 01 (một) bóp da màu đen và 01 (một) cặp xách màu đen, xét đây là tài sản cá nhân của bị cáo QIN H, không liên quan đến việc phạm tội, bị cáo không nhận lại, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 vali màu xanh, xét đây là vật dụng bị cáo QIN H sử dụng để cất giấu tài sản do phạm tội mà có, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 (một) điện thoại di động Redmi Note9 Pro (không kiểm tra được đời máy, I1 do không có nguồn điện, không kiểm tra được tình trạng hoạt động máy móc bên trong) là điện thoại của CHEN X để liên lạc với gia đình, nên cần trả lại cho bị cáo CHEN X;

- 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen, 01 (một) quần dài màu đen, 01 (một) cặp xách màu đen và 01 (một) nón vải màu trắng, xét đây là tài sản cá nhân của bị cáo CHEN X không liên quan đến việc phạm tội, bị cáo không nhận lại, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm đ khoản 2 Điều 290, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 55, Điều 58, Điều 37 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: QIN H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/4/2024.

Trục xuất QIN H ra khỏi lãnh thổ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngay sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

- Căn cứ vào điểm b, điểm đ khoản 2 Điều 290, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 55, Điều 37 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: CHEN X 04 (bốn) năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/4/2024.

Trục xuất CHEN X ra khỏi lãnh thổ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngay sau khi chấp hành xong hình phạt tù

- Căn cứ Điều 584, Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Buộc các bị cáo QIN H, CHEN X có nghĩa vụ bồi thường cho ông MATSUSHITA I, cụ thể: bị cáo QIN H bồi thường số tiền là 28.162.000 (hai mươi tám triệu một trăm sáu mươi hai nghìn) đồng và bị cáo CHEN X bồi thường số tiền là 28.162.000 (hai mươi tám triệu một trăm sáu mươi hai nghìn) đồng;

Buộc bị cáo CHEN X bồi thường cho ông NAKAYAMA M1 số tiền là 80.250.000 (tám mươi triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho ông MATSUSHITA I số tiền là 9.900.000 (chín triệu chín trăm nghìn) đồng;

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) đồng hồ đeo tay màu trắng hiệu RADO bên trong hộp đen, 01 (một) đồng hồ đeo tay màu trắng vàng hiệu CITZEN bên trong hộp màu vàng, 01 (một) đồng hồ đeo tay màu trắng vàng hiệu CITZEN bên trong hộp màu nâu, 01 (một) dây thắt lưng màu đen bên trong hộp giấy màu xanh có ghi chữ Gucci, 01 (một) dây thắt lưng màu đen bên trong hộp giấy màu xanh có ghi chữ Gucci, số 473030 và 01 (một) đồng hồ đeo tay màu trắng dây da màu đen hiệu LONGINES bên trong hộp màu xanh.

Trả lại cho bị cáo QIN H 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo (không kiểm tra được đời máy, I1 do không có nguồn điện, không kiểm tra được tình trạng hoạt động máy móc bên trong);

Trả lại cho bị cáo CHEN X 01 (một) điện thoại di động Redmi Note9 Pro(không kiểm tra được đời máy, I1 do không có nguồn điện, không kiểm tra được tình trạng hoạt động máy móc bên trong);

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo thun ngắn tay màu trắng, 01 (một) quần dài màu đen, 01 (một) bóp da màu đen, 01 (một) cặp xách màu đen; 01 vali màu xanh; 01 (một) áo thun ngắn tay màu đen; 01 (một) quần dài màu đen; 01 (một) cặp xách màu đen và 01 (một) nón vải màu trắng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03/9/2025 của Cơ quan Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh và Giấy nộp của Ngân hàng TMCP C2 ngày 10/9/2025).

- Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;

Bị cáo QIN H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.408.125 (một triệu bốn trăm lẽ tám nghìn một trăm hai mươi lăm) đồng;

Bị cáo CHEN X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.420.625 (năm triệu bốn trăm hai mươi nghìn sáu trăm hai mươi lăm) đồng.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ