- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "“Tranh chấp quyền sử dụng đất” Đoàn Minh T-Lê Văn L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện G (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Vĩnh L).
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 198/2025/DS-PT Ngày: 22/7/2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạt
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Chí Đức
Bà Lê Thị Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Nguyễn Yến Phương – Thẩm tra viên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh L tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 22/7/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5-Vĩnh L, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh L xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 128/2025/TLPT-DS ngày 24/4/2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2023/DS – ST ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện G (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7-Vĩnh L) bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1549/2025/QĐXXPT-DS ngày 08/5/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 2080/2025/QĐPT-DS ngày 08/7/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Đoàn Minh T, S năm 1958 (có mặt)
Địa chỉ: ấp 3, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh L).
2. Bị đơn: Ông Lê Văn L, S năm 1970 (có mặt)
Địa chỉ: ấp 3, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh L).
Người bảo vệ quyền và L ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Phạm Văn T-Công ty luật Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Đông An T (có mặt)
Địa chỉ: số 154, Tỉnh lộ 8, khu phố 2, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã T, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lê Thị P, S năm 1958;
3.2. Bà Phan Thị B, S năm 1959;
3.3. Ông Lê Văn H, S năm 1959;
3.4. Ông Lê Văn L, S năm 1961;
3.5. Bà Nguyễn Thị N, S năm 1966;
3.6. Anh Lê H L, S năm 1992;
3.7. Chị Lê Thị Hồng L1, S năm 1993;
Cùng địa chỉ: ấp 3, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh L).
3.8. Bà Lê Thị Thu T, S năm 1964;
Địa chỉ: ấp 4, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh L).
3.9. Bà Lê Thị N, S năm 1952 (xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: số nhà 36, đường 1D, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà B, ông H, anh L, chị L1, bà P, ông L: Bà Lê Thị Thu T, S năm 1964. (có mặt)
Địa chỉ: ấp 4, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh L).
Người đại diện theo uỷ quyền của bà N: Ông Lê Văn L, S năm 1961. (có mặt)
Địa chỉ: ấp 3, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh L).
3.10. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh L)
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quang H - Phó giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực 23-Vĩnh L). (có mặt)
4. Người kháng cáo: nguyên đơn Đoàn Minh T, bị đơn Lê Văn L.
5. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện G (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Vĩnh L).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Đoàn Minh T và người đại diện theo ủy quyền là bà Đoàn Thị Bích Lan trình bày:
Ông là chủ sử dụng thửa 176, tờ bản đồ số 12, diện tích là 12.921m2 (trong đó có 300m2 đất ở nông thôn, 12.621m2 đất trồng cây lâu năm), tọa lạc tại ấp 3, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. Khoảng năm 1972, mẹ của ông Lê Văn L là bà Nguyễn Thị S xin cha mẹ ông ở nhờ trên phần đất vườn có diện tích khoảng 300m2 thuộc thửa 1/176, tờ bản đồ số 12, bà S hứa chỉ cất nhà ở tạm. Cuối tháng 12/2017 bà S Chết, ông Lê Văn L cố ý chôn cất bà S trên phần đất này, trong khi ông L và bà S có đất khác. Phần đất ông L đang trực tiếp sử dụng qua đo đạc có diện tích 535,2m2 (không bao gồm phần đất ông Lê Văn L và bà Phan Thị B đang sử dụng). Trên đất có căn nhà, ngôi mộ của bà S cùng các công trình kiến trúc khác do ông L quản lý và sử dụng sau khi bà S chết.
Khi còn sống, bà S có xin cho bà Phan Thị B là cháu gọi bà S bằng dì ở nhờ trên phần đất có diện tích khoảng 50m2 thuộc thửa 1/176, tờ bản đồ số 12. Qua đo đạc phần đất bà B đang trực tiếp sử dụng có diện tích 119m2, trên đất có căn nhà chính, nhà phụ và các công trình kiến trúc khác.
Ngoài ra, bà S còn xin ông N cho con trai là ông Lê Văn L ở nhờ trên phần đất có diện tích khoảng 70m2 thuộc thửa 1/176, tờ bản đồ số 12, qua đo đạc thực tế có diện tích 56,8m2. Trên đất có căn nhà chính, nhà phụ cùng các công trình kiến trúc khác. Bà S có hứa với ông Đoàn Văn N khi bà chết sẽ trả lại phần đất của bà, ông L, bà B đang sử dụng.
Về nội dung Văn bản số 1101/VPDK-TTLT ngày 04/9/2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre thì phần đất bị chồng lấn là phần đất khác không P phần đất ông đang tranh chấp thuộc thửa 176; bà S được cấp sổ đất theo chế độ cũ là phần đất thuộc thửa 197, tờ bản đồ số 12, diện tích 2.687m2 phía sau thửa 176.
Nay ông yêu cầu Tòa án buộc ông Lê Văn L, bà Phan Thị B và ông Lê Văn L và những người có quyền L, nghĩa vụ liên quan P trả lại cho ông phần đất có diện tích là 811m2, thuộc thửa 1/176, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại ấp 3, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. Ông đồng ý nhận 03 căn nhà, các công trình kiến trúc của bị đơn, người có quyền L, nghĩa vụ liên quan xây dựng cũng như cây trồng trên đất và ông sẽ hoàn lại giá trị bằng tiền đối với các tài sản này. Ông đồng ý cho bị đơn để lại ngôi mộ của bà Nguyễn Thị S và tạo điều kiện cho bị đơn chăm sóc cũng như di dời mộ nếu có yêu cầu.
Theo đơn phản tố, quá trình tố tụng bị đơn ông Lê Văn L trình bày:
Nguồn gốc phần đất ông Đoàn Minh T tranh chấp với ông là do ông cố ngoại của ông T là ông Trần Văn L cho ông ngoại của ông là ông Nguyễn Văn Thông ở nhờ từ năm 1922. Từ đó đến nay gia đình ông đã S sống, sử dụng, cải tạo và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với phần đất này. Ông ngoại ông có 02 người con là bà Nguyễn Thị S (tên ở chế độ cũ là Lê Thị Thi) và bà Nguyễn Thị Sủng, hiện tại đều đã chết. Ông T cho rằng cha ông T là ông Đoàn Văn N cho bà S ở nhờ là không đúng. Khi ông cố ngoại của ông T cho ông Nguyễn Văn Thông ở nhờ thì không nêu điều kiện, chỉ nói miệng không làm giấy tờ. Năm 1973, bà S được cấp bằng khoán chế độ cũ; năm 1991, bà S có tờ khai và tờ đóng thuế đất. Do đó, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N là không đúng quy định của pháp luật. Trước thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N thì mẹ của ông và ông N đã có tranh chấp. Năm 1991, bà S đăng ký kê khai đối với phần đất tranh chấp nhưng do có tranh chấp với ông N nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc tranh chấp giữa bà S và ông N đã được hòa giải ở tổ hòa giải, giải quyết cho gia đình ông được sử dụng đất, ông N không có quyền đòi lại. Gia đình ông đã liên tục sử dụng đất hơn 100 năm không bị thu hồi, hay kê biên do đó gia đình ông mới là người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bà S có sử dụng một phần đất riêng không liên quan đến thửa đất số 176 do chế độ cũ cấp có diện tích 1,2 công. Năm 1991, sau khi đo đạc lại thì diện tích tăng lên là 1,9 công nên hiện trạng đất không đúng như trong bằng khoán.
Đối với yêu cầu của ông T buộc ông P trả lại phần đất có diện tích 811m2 thuộc thửa 1/176, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại ấp 3, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre là chưa đúng với diện tích mẹ ông sử dụng. Phần đất mẹ ông sử dụng có diện tích theo yêu cầu đo đạc của ông là 974,1m2 thuộc thửa 1/176. Trước đây ông T san lấp, bơm cát trên phần đất hiện ông đang quản lý sử dụng thì có hỏi ý kiến bà S nhưng ông không biết bà S có đồng ý hay không. Phần đất ông T đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông trong đó có cả phần đất ông T đang tranh chấp với bà Phan Thị B và ông Lê Văn L vì ông đã được bà S cho phần đất này, còn ông L và bà B chỉ cất nhà ở nhờ.
Do đó, ông không đồng ý với yêu cầu của ông T buộc ông và các anh, chị em của ông trả lại phần đất có diện tích 974,1m2 thuộc thửa 1/176, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại ấp 3, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. Ông yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Đoàn Minh T và công nhận cho ông phần đất đo đạc theo yêu cầu của ông có diện tích 974,1m2 thuộc thửa 1/176, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại ấp 3, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. Ông không đồng ý bồi hoàn tiền bơm cát, san lấp cho ông T.
Quá trình tố tụng, người có quyền L, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn L thống nhất với lời trình bày của ông Lê Văn L:
Phần đất ông Đoàn Minh T đang tranh chấp với ông qua đo đạc có diện tích 156,8m2 thuộc thửa 1/176, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại ấp 3, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre có nguồn gốc của mẹ ruột ông là bà Nguyễn Thị S, bà S chỉ cho ông cất nhà ở tạm trên đất, còn quyền sử dụng đất thuộc về ông L. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T vì phần đất này là của ông Lê Văn L đã được bà S tặng cho.
Quá trình tố tụng, người có quyền L, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị B, ông Lê Văn H và người đại diện theo uỷ quyền là bà Lê Thị Thu Thuỷ thống nhất với trình bày của ông Lê Văn L:
Phần đất ông Đoàn Minh T đang tranh chấp với ông bà qua đo đạc có diện tích 119m2 thuộc thửa 1/176, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại ấp 3, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre có nguồn gốc của bà Nguyễn Thị S, bà S chỉ cho ông bà cất nhà ở tạm trên đất, còn quyền sử dụng đất thuộc về ông L. Ông bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T vì phần đất này là của ông Lê Văn L đã được bà S tặng cho.
Quá trình tố tụng, người có quyền L, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị P, bà Lê Thị Thu T và bà Lê Thị N trình bày:
Các bà thống nhất với trình bày của bị đơn. Bà S chỉ cho ông L và bà B cất nhà ở tạm trên đất tranh chấp, quyền sử dụng đất thuộc về ông L. Việc tranh chấp giữa bà S và ông Đoàn Văn N đã được chính quyền xã giải quyết là ông N không được đòi đất lại, gia đình bà chỉ được ở và không được bán hay chuyển nhượng. Việc ông T hỏi bà S có sổ đỏ chưa thì bà S có đưa ra cuốn sổ đỏ của mảnh đất ruộng theo chủ trương người cày có ruộng. Phần đất đang tranh chấp bà S đã tặng cho ông L nên các bà không có ý kiến cũng như không có tranh chấp.
Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre có văn bản số 1496/STNMT- VPĐK ngày 24/5/2019, quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre là ông Nguyễn Tấn Châu trình bày:
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đoàn Minh T dựa trên các cơ sở: Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; quy trình thực hiện theo thủ tục số 17 thuộc Quyết định số 458/QĐ-UBND ngày 08/3/2017 của UBND tỉnh Bến Tre về việc công bố 95 thủ tục hành chính được chuẩn hóa trong lĩnh vực tài nguyên môi trường thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở Tài nguyên và Môi trường; về giấy tờ hợp pháp: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND huyện G cấp cho hộ ông Đoàn Văn N số Y 249260 thuộc thửa đất số 176, tờ bản đồ số 12, có diện tích 12.213,0m2, mục đích: 300m2 đất ở và 12.913m2 đất trồng cây lâu năm. Ngày 28/10/2015, được cập nhật biến động đo đạc tách thành các thửa đất số 176, 329, 330, 331 tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã H, huyện G; Văn bản phân chia tài sản thừa kế quyền sử dụng đất đã được UBND xã H chứng thực ngày 25/4/2017 do đó việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đoàn Minh T đối với thửa đất số 176, tờ bản đồ số 12, tại xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre là đúng quy định pháp luật.
Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Đoàn Minh T ngày 15/5/2017 P đảm bảo theo quy định tại khoản 7 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Từ những cơ sở trên, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông L về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2023/DS–ST ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện G (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7-Vĩnh L) đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Minh T về việc yêu cầu bị đơn ông Lê Văn L và những người có quyền L, nghĩa vụ liên quan gồm: bà Phan Thị B, ông Lê Văn H, ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị N, anh Lê H L, chị Lê Thị Hồng L1 P trả lại phần đất có diện tích 811m2 thuộc thửa 1/176, tờ bản đồ số 12, tại xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre, nhưng được trả giá trị bằng tiền.
Buộc ông Lê Văn L và những người có quyền L, nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Phan Thị B, ông Lê Văn H, ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị N, anh Lê H L, chị Lê Thị Hồng L1 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Đoàn Minh T số tiền 95.698.000 đồng.
Ông Lê Văn L và những người có quyền L, nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Phan Thị B, ông Lê Văn H, ông Lê Văn L, bà Nguyễn Thị N, anh Lê H L, chị Lê Thị Hồng L1 được quyền sử dụng phần đất có diện tích là 811m2 thuộc thửa 1/176, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre và các công trình, vật kiến trúc, hoa màu có trên đất. Mục đích sử dụng đất: Đất trồng cây lâu năm.
Đất có tứ cận và chiều dài các cạnh như sau: Đông bắc giáp đường H cạnh 2-3 dài 28,76m; Tây bắc giáp phần còn lại của thửa 176, cạnh 1-2 dài 27,29m; Đông nam giáp phần còn lại của thửa 176, cạnh 3-4 + cạnh 4-5 dài 25,6m; Tây nam giáp phần còn lại của thửa 176, cạnh 1-7 + cạnh 7-6 + cạnh 6-5 dài 25,94m.
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như án đã tuyên sau khi các đương sự thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán giá trị quyền sử dụng đất và khi các đương sự có yêu cầu.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Văn L về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 1/176, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại ấp 3, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre do ông Đoàn Minh T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu công nhận diện tích đất 974,1m2 thuộc thửa 1/176, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 08/6/2023, bị đơn ông Lê Văn L kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án, chấp nhận yêu cầu phản tố của ông, không buộc ông và những người có quyền L, nghĩa vụ liên quan bồi hoàn giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp cho nguyên đơn.
Ngày 12/6/2023, nguyên đơn ông Đoàn Minh T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông, buộc bị đơn và người có quyền L, nghĩa vụ liên quan trả đất, không đồng ý nhận giá trị.
Ngày 12/6/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện G (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Vĩnh L) có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 02/QĐ-VKS-DS ngày 12/6/2023, kháng nghị bản án sơ thẩm. Đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre (nay là Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh L) huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện G (nay là Toà án nhân dân khu vực 7-Vĩnh L) giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị đơn, nguyên đơn giữ nguyên kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và L ích hợp pháp cho bị đơn là Luật sư Phạm Văn T trình bày: gia đình ông L sử dụng đất công khai minh bạch xuyên suốt từ năm 1975 đến nay, trên đất có 3 căn nhà và cây trồng trên đất, gia đình ông L có kê khai và đóng thuế sử dụng đất đầy đủ, do đất ông T ở sát phần đất tranh chấp nên cha của ông T là ông Đoàn Văn N đã kê khai luôn phần đất của gia đình ông L, gia đình ông N cũng không có ý kiến gì về việc gia đình ông L S sống trên phần đất tranh chấp. Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N năm 1998 nhưng gia đình ông N không P là người trực tiếp quản lý sử dụng đất là sai quy trình. Năm 1995 ông N có đứng tên sổ mục kê nhưng đó không P là cơ sở để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu phản tố của ông L, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T, công nhận quyền sử dụng đất cho ông L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh L tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung kháng nghị và phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện G (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Vĩnh L), hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện G (nay là Toà án nhân dân khu vực 7-Vĩnh L) giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên toà; xét kháng cáo của nguyên đơn ông Đoàn Minh T, bị đơn ông Lê Văn L, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện G (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Vĩnh L), Hội đồng xét xử nhận định:
Các đương sự đều thống nhất phần đất tranh chấp qua đo đạc thực tế có diện tích 811m2 thuộc thửa 1/176, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là xã P, tỉnh Vĩnh L) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đoàn Minh T. Nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ Trần Văn L và cụ Trần Thị Gần (ông bà cố ngoại của ông Đoàn Minh T) nhưng không rõ được hình thành từ thời điểm nào.
Theo nguyên đơn ông Đoàn Minh T, sau khi cụ L chết, cha ông là ông Đoàn Văn N thừa hưởng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng năm 1972 bà Nguyễn Thị S có xin gia đình ông ở nhờ trên đất đến hết đời. Sau khi ông N chết ông được nhận thừa kế thửa 176 bao gồm cả phần đất cho bà S ở nhờ. Hiện bà S đã chết ông yêu cầu các con của bà S trả lại phần đất tranh chấp.
Bị đơn ông Lê Văn L cho rằng cụ L đã cho ông ngoại ông là ông Nguyễn Văn Thông cất nhà ở trên đất từ khoảng năm 1922. Phần đất tranh chấp nằm trong bằng khoán điền thổ số 70 được chế độ cũ cấp cho bà S năm 1973, diện tích 1,26ha. Gia đình ông đã S sống trên đất tranh chấp trên 100 năm nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T đối với phần đất thuộc thửa 1/176, công nhận cho ông được quyền sử dụng phần đất tranh chấp.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện từ năm 1995 ông Đoàn Văn N đứng tên sổ mục kê các thửa đất 383, 384; năm 1998 ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2004 được cấp đổi diện tích 22.213m2. Năm 2012 ông N chết những người thuộc hàng thừa kế của ông N phân chia di sản và ông T được nhận diện tích 12.913m2 thuộc thửa số 176, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã H, huyện G và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2017.
Quá trình sử dụng đất, phần đất tranh chấp không được đưa vào tập đoàn sản xuất, hợp tác xã. Ông L cho rằng cụ L đã cho ông ngoại của ông là ông Nguyễn Văn Thông ở trên đất tranh chấp từ năm 1922, gia đình ông đã S sống, sử dụng đất ổn định nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cụ L đã cho ông Thông phần đất tranh chấp. Khi gia đình nguyên đơn đăng ký, kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cũng như các lần cấp đổi, phía bị đơn không có ý kiến phản đối hay khiếu nại. Đồng thời, trong quá trình sử dụng đất gia đình bị đơn cũng không đăng ký, kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, ông L còn cho rằng phần đất tranh chấp nằm trong bằng khoán điền thổ số 70 cấp cho bà S năm 1973, diện tích l,26 ha vì theo nội dung Công văn số 1101/VPĐK-TTLT ngày 04/9/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai xác định: “Chứng thư cấp quyền sở hữu số 209M năm 1973 có liên quan đến một phần thửa đất số 176”. Nhưng theo Công văn số 1737/STNMT-VPĐK ngày 28/5/2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường đã khẳng định "...Do trên bản đồ giấy lập trước năm 1975 không được chỉnh lý mà chỉ ghi chú nên không thể xác định được số thửa đất 383, 384, tờ bản đồ số 2 ghi tên ông Đoàn Văn N trong sổ mục kê liên quan đến thửa đất số 176, tờ bản đồ số 12 là từ lô đất số 209M, tờ bản đồ số 1 (bằng khoán 70)...”. Như vậy, không có cơ sở xác định một phần thửa 176 nằm trong bằng khoán 70. Mặt khác, quá trình sử dụng đất vào năm 1994 cơ quan chuyên môn đo đạc thiết lập bản đồ địa chính, bà S và ông N thống nhất về ranh đất sử dụng, không ai có ý kiến gì về kết quả đo đạc. Ông L cho rằng, sau khi có kết quả đo đạc bà S có đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không được cấp do đất đang tranh chấp. Tuy nhiên, tại biên bản xác minh ông Lê Văn Hiển là Trưởng ấp 3, xã H trình bày trước khi bà S chết các bên không có tranh chấp quyền sử dụng đất nên không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của ông L.
Ông L cung cấp chứng cứ là biên lai thu thuế sử dụng đất từ năm 1995 đến năm 2002 nhưng các biên lai không thể hiện bà S đóng thuế sử dụng phần đất nào vì bà S còn đứng tên sử dụng thửa đất 197, diện tích đất 2687,8m2, tại xã H và việc đóng thuế chỉ là nghĩa vụ của người trực tiếp sử dụng đất đối với Nhà nước, không P căn cứ xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà S.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần đất tranh chấp là của nguyên đơn là phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Theo Điều 166 Bộ luật Dân sự nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn, người có quyền L, nghĩa vụ liên quan trả lại phần đất tranh chấp là có căn cứ.
Trên phần đất tranh chấp có nhà, các công trình kiến trúc phục vụ nhu cầu S hoạt hằng ngày của gia đình ông L, ông L, bà B. Gia đình bị đơn và những người có quyền L, nghĩa vụ liên quan đã xây dựng nhà, S sống ổn định trên đất trong thời gian dài. Do đó, để đảm bảo cho gia đình ông L, ông L, bà B có nơi ở ổn định cấp sơ thẩm quyết định buộc bị đơn, người có quyền L, nghĩa vụ liên quan liên đới trả giá trị quyền sử dụng đất cho ông T và được tiếp tục sử dụng phần đất tranh chấp là phù hợp.
Tuy nhiên, về giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp, Toà án cấp sơ thẩm áp dụng theo biên bản định giá tài sản ngày 18/4/2019 là chưa phù hợp so với giá trị đất thực tế tại thời điểm xét xử, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và L ích hợp pháp của đương sự. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn ông T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo về việc không chấp nhận giá trị quyền sử dụng đất mà Toà án cấp sơ thẩm buộc gia đình ông L và những người khác hoàn trả cho ông T. Vì vậy cần thiết P tiến hành định giá lại tài sản tranh chấp.
Đồng thời, theo kiến nghị của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7-Vĩnh L) tại Công văn số 145/CCTHADS ngày 31/01/2024 xác định: diện tích đất 811m2 giao cho ông L và những người có quyền L, nghĩa vụ liên quan được quyền sử dụng hiện nay nhà nước đã thu hồi một phần, ông T đã được chi trả tiền đền bù giá trị đất. Vì vậy cần thiết P tiến hành đo đạc lại phần đất tranh chấp để làm rõ diện tích đất đã bị thu hồi là bao nhiêu và diện tích đất tranh chấp còn lại là bao nhiêu mới giải quyết chính xác được vụ án.
Từ những nhận định đã phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần P huỷ án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
Ngoài ra, theo gia đình ông L cho rằng gia đình ông L đã quản lý sử dụng đất tranh chấp từ năm 1922, còn ông T xác định gia đình ông L đã S sống trên đất từ năm 1972, trên đất hiện có nhà và các tài sản khác gắn liền với đất. Như vậy, gia đình ông L có quá trình quản lý sử dụng đất lâu dài. Do đó, cấp sơ thẩm khi giải quyết lại cũng cần P xem xét công sức gìn giữ, tôn tạo làm tăng giá trị đất của gia đình ông L để giải quyết cho thoả đáng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh L là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Lời đề nghị của người bảo vệ quyền và L ích hợp pháp cho bị đơn không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do án sơ thẩm bị huỷ nên các đương sự có kháng cáo không P chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện G (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7-Vĩnh L).
1. Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2023/DS–ST ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện G (nay là Tòa án nhân dân khu vực 7-Vĩnh L). Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 7-Vĩnh L giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Đoàn Minh T, ông Lê Văn L không P chịu án phí phúc thẩm.
Hoàn lại cho ông Lê Văn L số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0005909 ngày 08/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bến Tre (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7-Vĩnh L).
Bản án phúc thẩm có hiệu L pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Vĩnh L; - Tòa án nhân dân khu vực 7-Vĩnh L; - VKSND khu vực 7-Vĩnh L; - Phòng THADS khu vực 7-Vĩnh L; - Phòng GĐKT,TT&THA T.Vĩnh L; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Đạt |