vanban.org

Bản án 198/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 13/08/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/08/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng E cùng đồng phạm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 198/2024/HS-PT
Ngày: 13-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mỹ.

Các Thẩm phán:

Ông Khắc Thịnh.

Bà Nguyễn Thị Vĩnh .

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 150/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng E và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng E, Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2024/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Hoàng E (Tên gọi khác: H1), sinh ngày 01/01/1993; Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở hiện nay: Tổ A, ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Không biết chữ;Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1953 và con bà Cù Thị M, sinh năm 1965; Gia đình có 10 anh, em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 07/10/2008 bị Công an huyện H, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 19/01/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 31/7/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Ngày 30/6/2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/7/2021. Tạm giữ: Từ ngày 31/10/2023 đến ngày 09/11/2023. Bắt tạm giam: Từ ngày 22/11/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Đ.

2. Họ và tên: Nguyễn Anh T (Tên gọi khác: Tuấn L; Sên L), sinh ngày 08/8/1997; Nơi cư trú: Khóm B, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở hiện nay: Khóm B, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hồ Trung H2, sinh năm 1977 và con bà Nguyễn Thị Thu H3, sinh năm 1971; Gia đình có 04 anh, em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 09/11/2017 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 17/12/2022. Nhân thân: Ngày 11/02/2015 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Đ xử phạt 30.000.000 đồng về hành vi “Vận chuyển hàng cấm”. Tạm giữ: Từ ngày 01/01/2024 đến ngày 04/01/2024. Tạm giam: Từ ngày 04/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Đ.

3. Họ và tên Nguyễn Chí H; sinh năm 2000 tại Đồng Tháp; Nơi đăng ký HKTT: Ấp F, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp F, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1974 và con bà Nguyễn Diễm T1, sinh năm 1983; Gia đình có 03 anh, em; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: Từ ngày 01/01/2024 đến ngày 04/01/2024; Tạm giam: Từ ngày 04/01/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Đ.

(Các Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Thành P, Nguyễn Văn D, Nguyễn Phạm Tiến P1, Lê Phương Thái N1; Bị hại không kháng cáo; Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do xuất phát từ việc Nguyễn Hoàng E có mâu thuẫn với Bùi Công T2 (Tý Minh H4), sinh năm 1977, ngụ khóm C, phường A, thành phố H khi hoạt động ở trường G bên Campuchia và nghi ngờ việc có nhóm người đến thành phố H tìm Hoàng E để đánh nhau nên vào khoảng 23 giờ 15 phút ngày 26/10/2023, Nguyễn Hoàng E điều khiển xe mô tô loại Dream không rõ biển số chạy đến nhà của T2 (Tý Minh H4) để nói chuyện. Trên đường đi đến đầu cầu sắt cũ (cầu nối giữa qua khu B và khu B thuộc khóm M, phường A), thời điểm này có mặt Nguyễn Văn D, Lê Phương Thái N1 (N), Nguyễn Chí H và nhiều thanh niên không rõ họ tên đứng nói chuyện khoảng 10 phút đến 15 phút thì Nguyễn Hoàng E thấy Nguyễn Thành P (Phát C) điều khiển xe mô tô chạy ngang qua nên Hoàng E điều khiển xe chạy theo P, Nguyễn Chí H chạy xe theo Hoàng E. Khi đến trước nhà T2 (Tý Minh H4) thì giữa Hoàng E và P cự cãi nên Nguyễn Thành P đã dùng dao đâm trúng vào vùng bụng của Hoàng E.

Khoảng 10 phút sau thì có điện thoại gọi cho người trong nhóm Nguyễn Văn D và Lê Phương Thái N1 (không rõ ai gọi) nói Hoàng E bị đâm. Lúc này có người trong nhóm ném một bao chứa nhiều hung khí, dao tự chế xuống đất nên Lê Phương Thái N1 lấy một cây sắt dài khoảng 50cm lên xe cho Nguyễn Văn D chở đi đến khu vực sau nhà T2 (Tý Minh H4) có trại gà của anh Phạm Gia H5 tại khóm C, phường A mục đích để hỗ trợ tìm người đâm Hoàng E để đánh lại trả thù. Khi đến trước trại nuôi gà Nguyễn Văn D cầm cục đá, Lê Phương Thái N1 cầm thanh sắt, Nguyễn Phạm Tiến P1 cầm 02 (hai) dao tự chế cùng chạy vào khu vực vườn cây bên trong trại nuôi gà của anh H5. Khi vào bên trong trại nuôi gà, Tiến P1 đưa D 01 (một) dao tự chế và cùng nhóm người đi tìm đánh trả lại người đã đâm Hoàng E. Khi Thái N1 cầm hung khí chạy tìm đánh nhóm người đã gây thương tích cho Hoàng E nhưng không tìm thấy nên ra ngoài xe ngồi chờ Nguyễn Văn D đi hỗ trợ Hoàng E đánh nhau rồi cùng ra về.

Sai khi bị Nguyễn Thành P đâm gây thương tích, Hoàng E chạy vào vườn mai trong trại nuôi gà của anh H5, tiếp theo Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Phạm Tiến P1 đều cầm hung khí chạy theo sau Hoàng E. Thời điểm này tại vườn mai trong trại nuôi gà chỉ có mặt Nguyễn Văn L1, sinh ngày 19/12/2006 nên Nguyễn Hoàng E chỉ tay vào mặt L1 nói “Có thằng này nè”, Nguyễn Anh T thấy vậy nên lao vào dùng dao tự chế chém Lẹ 01 (một) cái, khiến L1 té ngã xuống đất, T tiếp tục đâm, chém thêm 02 (hai) cái nữa trúng vào chân L1, Nguyễn Chí H dùng chĩa bằng kim loại đâm Lẹ trúng khủy tay phải, H1 Em đá vào đầu L1, Nguyễn Văn D và Nguyễn Phạm Tiến P1 cầm hung khí là dao tự chế đứng xung quanh hỗ trợ rồi cả nhóm bỏ đi khỏi hiện trường và ném hung khí bỏ trên đường tẩu thoát.

Hậu quả: Nguyễn Văn L1, bị thương tích ở vùng bụng và đứt gân chân bên trái được chuyển đến bệnh viện C, thành phố Hồ Chí Minh điều trị; Nguyễn Hoàng E, bị thương ở vùng bụng điều trị ở bệnh viện Đ2. Đến ngày 31/10/2023 Nguyễn Hoàng E có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Thành P; Nguyễn Văn L1 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với những người đã gây thương tích cho L1.

Ngày 31/10/2023 Nguyễn Thành P đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đầu thú về hành vi gây thương tích cho Nguyễn Hoàng E; Ngày 01/01/2024 Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đầu thú về hành vi gây thương tích cho Nguyễn Văn L1.

*Vật chứng vụ án Cơ quan điều tra thu giữ:

- Thu giữ tại hiện trường:

+ 01 (một) đĩa DVD-R hiệu maxeii dung lượng 4.7GB, lưu trữ dữ liệu điện tử là một đoạn (files) video có tên “3838046866640753292”;

+ 01 (một) đĩa DVD-R hiệu maxeii dung lượng 4.7GB, lưu trữ dữ liệu điện tử là một đoạn (files) video có tên “3164539143466156534”.

- Thu giữ của Lê Phương Thái N1:

+ 01 (một) áo thun tay ngắn màu đen, phía trước có họa tiết hình lá nhiều màu, có dòng chữ LEVENTS, đã qua sử dụng;

+ 01 (một) quần Short màu xám, đã qua sử dụng.

- Thu giữ của Nguyễn Anh T:

+ 01 (một) áo thun tay ngắn màu đen, trước ngực áo có dòng chữ ITALIA màu xanh đen, đã qua sử dụng.

+ Riêng các hung khí tự chế các bị can sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, lực lượng chức năng tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy.

- Kết luận giám định:

1. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 441/TgT, ngày 08/11/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận đối với Nguyễn Văn L1: “Căn cứ bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng bộ Y1 quy định phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn L1 do thương tích gây nên hiện tại là 04%”.

- Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 03/KLTTCT/BS-TTPYĐT, ngày 23/12/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận đối với Nguyễn Văn L1:

“+ Hai sẹo vết thương phần mềm cánh tay phải, kích thước nhỏ. Mỗi sẹo 01%.

+ Sẹo vết thương phần mềm cẳng chân phải, kích thước trung bình. Tỷ lệ tổn thương 02%.

+ Đứt hoàn toàn thần kinh mác sâu, thần kinh mác nông chân trái đã khâu. Tỷ lệ tổn thương 26 %.

+ Đứt bó mạch chày trước chân trái đã khâu, kết quả tốt. Tỷ lệ tổn thương 05%.

+ Căn cứ bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng bộ Y1 quy định phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn L1 tại thời điểm giám định là 23%.

+ Kết luận giám định số 441/KLTTCT-TTPY ngày 08/11/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y với tỷ lệ tổn thương 04%:

+ Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn L1 là 35%.

+ Kết luận khác: Sẹo vết thương phần mềm cánh tay phải do vật nhọn gây ra; Sẹo vết thương phần mềm cẳng chân phải do vật sắc gây ra; Sẹo vết thương phần mềm cánh tay phải theo hướng từ sau ra trước; Sẹo vết thương phần mềm cẳng chân phải theo chiều hướng từ phải sang trái; Cơ chế hình thành tổn thương do ngoại lực tác động gây ra”.

2. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 438/TgT, ngày 08/11/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận đối với Nguyễn Hoàng E: “Căn cứ bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng bộ Y1 quy định phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Hoàng E do thương tích gây nên hiện tại là 04%.”

- Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 04/KLTTCT/BS-TTPYĐT, ngày 23/12/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y kết luận đối với Nguyễn Hoàng E:

“+ Rách thanh mạc đại tràng ngang đã khâu, rách mạc treo đại tràng ngang, rách mạc nối lớn đã khâu cầm máu ổn định. Tỷ lệ tổn thương 23%;

+ Căn cứ bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng bộ Y1 quy định phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hoàng E tại thời điểm giám định là 23%.

+ Kết luận giám định số 438/KLTTCT-TTPYĐT ngày 08/11/2023 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y với tỷ lệ tổn thương 04%.

+ Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Hoàng E là 26%.

+ Kết luận khác: Vết thương phần mềm do vật sắc nhọn gây ra; Vết mổ, vết dẫn lưu do quá trình điều trị; Cơ chế hình thành tổn thương do ngoại lực tác động gây ra; Chiều hướng hình thành tổn thương từ trước ra sau, từ trên xuống dưới”.

3. Bản kết luận giám định số: 1206/KL-KTHS, ngày 08/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:

- Tệp tin video có tên 3164539143466156534. mp4 trong mẫu cần giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh;

- Không đủ cơ sở kết luận tệp video có tên 3838046866640753292.mp4 trong mẫu cần giám định.

- Đã trích xuất hình ảnh của những người liên quan tới vụ việc trong tệp tin video có tên 3164539143466156534. mp4 ra bản ảnh.

Các vật chứng Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo quy định nhằm phục vụ cho công tác điều tra.

Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội do Nguyễn Thành P, Nguyễn Hoàng E, Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Phạm Tiến P1, Lê Phương Thái N1 có bản tính hung hãn, manh động, coi thường sức khỏe của người khác. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt mà Nguyễn Thành P đã sử dụng hung khí gây thương tích cho Nguyễn Hoàng E; Nguyễn Hoàng E, Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Phạm Tiến P1, Lê Phương Thái N1 đã sử dụng vũ lực và hung khí gây thương tích cho Nguyễn Văn L1.

- Về trách nhiệm Dân sự: Nguyễn Hoàng E yêu cầu Nguyễn Thành P bồi thường thiệt hại về sức khỏe và các khoản khác tổng cộng là 50.000.000 đồng; Nguyễn Văn L1 yêu cầu Nguyễn Hoàng E, Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H, Nguyễn Văn D, Nguyễn Phạm Tiến P1, Lê Phương Thái N1 bồi thường thiệt hại cho L1 với tổng số tiền là 100.000.000 đồng (Nguyễn Chí H, Nguyễn Anh T thống nhất bồi thường 70.000.000 đồng nhưng đến nay chưa thực hiện việc bồi thường).

Quá trình điều tra Nguyễn Thành P, Nguyễn Chí H, Nguyễn Phạm Tiến P1, Nguyễn Văn D, Lê Phương Thái N1, Nguyễn Anh T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Riêng Nguyễn Hoàng E không thừa nhận cùng đồng phạm thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho Nguyễn Văn L1 nhưng qua điều tra thể hiện sau khi bị Nguyễn Thành P gây thương tích, Hoàng E gặp Nguyễn Văn L1 ở vườn mai trong trại nuôi gà của anh Phạm Gia H5 nên Hoàng E đã nói “Có thằng này nè” nên anh L1 đã bị Nguyễn Anh T và Nguyễn Chí H dùng dao tự chế và chĩa bằng kim loại chém và đâm anh L1, tiếp theo Hoàng E dùng chân đá vào đầu anh L1 trong lúc anh L1 đã ngã nằm dưới đất; còn Nguyễn Văn D, Nguyễn Phạm Tiến P1 cầm hung khí là dao tự chế đứng xung quanh để hỗ trợ. Do đó đã có đầy đủ căn cứ chứng minh hành vi đồng phạm của Nguyễn Hoàng E.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2024/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đã xét xử:

1/ Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành P 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 31/10/2023).

2/ Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng E phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng E 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 22/11/2023) và được trừ đi những ngày tạm giữ (từ ngày 31/10/2023 đến 09/11/2023).

3/ Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 01/01/2024).

4/ Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 01/01/2024).

5/ Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 23/11/2023).

6/ Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Tiến P1 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 30/11/2023).

7/ Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tuyên bố bị cáo Lê Phương Thái N1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Xử phạt bị cáo Lê Phương Thái N1 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 26/01/2024).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và nêu quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, bị cáo Nguyễn Hoàng E kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm do bị cáo không thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo bị oan.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Hoàng E thay đổi kháng cáo từ kêu oan xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo Nguyễn Hoàng E, Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Các bị cáo Nguyễn Hoàng E, Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H thừa nhận Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp kết án các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, các bị cáo cho rằng mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là cao so với hành vi của các bị cáo và các bị cáo giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng hành vi của các bị cáo Nguyễn Hoàng E, Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, riêng bị cáo Nguyễn Hoàng E kháng cáo kêu oan. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng E thay đổi kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H không cung cấp tình tiết gì mới ngoài các tình tiết mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét. Riêng bị cáo Nguyễn Hoàng E có cung cấp tình tiết ông Nguyễn Văn Đ1 là cha ruột của bị cáo có công mạng. Đây là tình tiết mới phát sinh so với xét xử cấp sơ thẩm, tuy nhiên bị cáo Hoàng E có nhiều tiền án nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng E, Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng E, Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H.

Trong phần tranh luận, các bị cáo Nguyễn Hoàng E, Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H không tham gia tranh luận. Tại lời nói sau cùng, các bị cáo Nguyễn Hoàng E, Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Xuất phát từ việc Nguyễn Hoàng E có mâu thuẫn với anh Bùi Công T2, bị cáo Nguyễn Hoàng E đã chạy xe đến nhà anh T2 thì gặp Nguyễn Thành P. Bị cáo Nguyễn Hoàng E biết P là người làm thuê cho anh T2, giữa Nguyễn Hoàng E và Nguyễn Thành P đã cự cải nên mới dẫn đến hậu quả P dùng dao đâm trúng vùng bụng Hoàng E một cái. Sau khi Hoàng E bị thương tích nhóm Hoàng E kéo đến tìm người đâm Hoàng E là Nguyễn Thành P mục đích để trả thù, khi đến nơi không gặp Nguyễn Thành P mà gặp Nguyễn Văn L1 nên Hoàng E chỉ tay vào mặt và nói “Có thằng này nè” nên T dùng dao tự chế đang cầm trên tay chém Lẹ 03 nhát gây thương tích té nằm xuống đất, H dùng cây sắt nhọn (chĩa) đâm trúng người Lẹ, sau đó Hoàng E dùng chân đá vào đầu L1, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn L1 theo giám định là 35%. Hành vi của các bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự bằng Bản án hình sự số 14/2024/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét thấy khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm có xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo.

[3] Các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo Nguyễn Hoàng E kháng cáo kêu oan. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng E thay đổi kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử thấy rằng, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H không cung cấp tình tiết mới, bị cáo Hoàng E có cung cấp tình tiết ba bị cáo là ông Nguyễn Văn Đ1 là người có công cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới so với xét xử cấp sơ thẩm và được ghi nhận tại khoản 2 Điều 51. Tuy nhiên, bị cáo Hoàng E có nhiều tiền án và mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên phần Quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.

[4] Xét đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng E, Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2024/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng E, Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H.

2. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng E, Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2.1. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng E 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 22/11/2023) và được trừ đi những ngày tạm giữ (từ ngày 31/10/2023 đến 09/11/2023).

2.2. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 01/01/2024).

2.3. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 01/01/2024).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-02-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Hoàng E, Nguyễn Anh T, Nguyễn Chí H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

Cỡ chữ