- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa Nguyễn Văn A và Trần Văn P, Nguyễn Thị T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn A. Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn A số tiền nợ hụi 178.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 16 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 198/2024/DS-ST Ngày: 17-9-2024 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thực;
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Văn Tư;
+ Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Tiểu Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Trong các ngày 10 và 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 139/2024/TLST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 173/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1972; cư trú tại: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Anh D, sinh năm 1959; thường trú tại: Số H Đường số A, cư xá Đ, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Theo văn bản ủy quyền lập ngày 24-4-2024. (Có mặt)
- Bị đơn:
1. Anh Trần Văn P, sinh năm 1971; (Vắng mặt)
2. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; (Vắng mặt)
Cùng cư trú tại: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn, ông Nguyễn Văn A và người đại diện theo ủy quyền cùng trình bày: Trước đây, ông A có tham gia chơi dây hụi do vợ chồng ông Trần Văn P và bà Nguyễn Thị T làm đầu thảo, cụ thể như sau:
- Dây hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 15-3-2021 âm lịch, mỗi tháng khui 01 lần, gồm có 28 phần, ông A tham gia 02 phần ghi tên là “Năm A1”, mức đóng hụi sống cao nhất là 1.600.000 đồng (Dằn nền 400.000 đồng), tiền hoa hồng phải trả cho chủ hụi là 1.000.000 đồng/phần hụi, ông hốt 01 phần và còn phải đóng hụi chết lại 06 kỳ, còn 01 phần hụi đã đóng được 22 kỳ thì bị đơn tuyên bố ngưng hụi và chưa trả ông số tiền 44.000.000 đồng. Như vậy, 02 dây hụi này sau khi đã trừ tiền hụi chết mà ông A1 phải đóng thì bà T, ông P còn nợ ông 32.000.000 đồng nhưng bị đơn chỉ trả được 10.000.000 đồng nên nay ông yêu cầu ông P, bà T trả tiếp 22.000.000 đồng.
- Dây hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 10-11-2021 âm lịch, mỗi tháng khui 01 lần, gồm có 26 phần, ông A1 tham gia 02 phần ghi tên là “Năm A1”, mức đóng hụi sống cao nhất là 1.600.000 đồng (Dằn nền 400.000 đồng), tiền hoa hồng phải trả cho chủ hụi là 1.000.000 đồng/phần hụi, nếu đã hốt hụi rồi thì mỗi tháng đóng hụi chết 2.000.000 đồng/phần. Dây hụi này ông A1 đã đóng 16 lần của 02 phần hụi, sau đó thì bị đơn tuyên bố ngưng hụi và chưa trả ông số tiền 64.000.000 đồng nên nay ông yêu cầu ông P, bà T phải trả cho ông.
- Dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 20-10-2020 âm lịch, mỗi tháng khui 01 lần, gồm có 29 phần, ông A1 tham gia 01 phần ghi tên là “Năm A1”, mức đóng hụi sống cao nhất là 4.100.000 đồng (Dằn nền 900.000 đồng), tiền hoa hồng phải trả cho chủ hụi là 2.500.000 đồng, nếu đã hốt hụi rồi thì mỗi tháng đóng hụi chết 5.000.000 đồng/phần. Dây hụi này ông A1 hốt hụi chót được 140.000.000 đồng, nếu trừ tiền hoa hồng thì ông P, bà T phải giao cho ông A1 137.500.000 đồng nhưng mới chỉ trả được 45.000.000 đồng nên còn nợ 92.500.000 đồng.
Nay ông A1 yêu cầu bà T, ông P phải trả ông tổng số tiền hụi còn nợ là 178.500.000 đồng.
Bị đơn, bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P: Đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, bản sao tài liệu chứng cứ kèm theo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện đã trả tiền hụi cho ông A1, vắng mặt không có lý do tại các phiên họp và phiên tòa.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn A và người đại diện theo ủy quyền của ông A là ông Trần Anh D yêu cầu vợ chồng ông Trần Văn P, bà Nguyễn Thị T phải có nghĩa vụ trả cho ông A số tiền nợ hụi là 178.500.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Ông Nguyễn Văn A khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P phải trả số tiền nợ hụi, nên căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”. Bị đơn, bà T, ông P cư trú tại ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, nên thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn, bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà T, ông P.
Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy có nhận được văn bản bản ghi tên Nguyễn Thị T đề ngày 23-5-2024, nội dung văn bản thừa nhận ông A có tham gia chơi hụi do bà T làm đầu thảo nhưng cho rằng sau khi bể hụi đã tổ chức bốc thăm, bà T có giao tiền cho các hụi viên chỉ còn thiếu lại một ít. Tuy nhiên, văn bản này không có chữ ký của bà T nên không thể xác định được đây có phải là ý chí của bà T hay không. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, bản sao tài liệu chứng cứ của các nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi kiện; giấy triệu tập dự phiên họp về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bà T, ông P vắng mặt không có lý do và không cung cấp hoặc yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ để chứng cứ chứng minh ông, bà đã giao tiền hụi cho ông A là tự mình từ bỏ nghĩa vụ chứng minh.
Xét yêu cầu khởi kiện của ông A, Hội đồng xét xử xét thấy: Ông A có tham gia chơi hụi của ông P, bà T tổ chức gồm 02 phần hụi của dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 15-3-2021 âm lịch, ông A đã hốt 01 phần hụi và có nghĩa vụ đóng lại hụi chết cho bà T, ông P 06 kỳ hụi chết với số tiền 12.000.000 đồng, còn 01 phần ông A đóng được 22 kỳ nhưng ông P, bà T chưa trả tiền hụi cho ông, như vậy sau khi đã trừ tiền hụi chết phải đóng, phía ông P, bà T còn nợ ông A 22.000.000 đồng; dây hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 10-11-2021 âm lịch, ông A tham gia 02 phần và đã đóng 16 lần thì bị đơn tuyên bố ngưng hụi và chưa trả ông A số tiền 64.000.000 đồng; dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 20-10-2020 âm lịch, dây hụi này ông A hốt hụi chót được 140.000.000 đồng, trừ tiền hoa hồng 2.500.000 đồng thì ông P, bà T phải giao cho ông A 137.500.000 đồng nhưng mới chỉ trả được 45.000.000 đồng nên còn nợ 92.500.000 đồng. Như vậy, cả ba dây hụi ông A tham gia hiện phía ông P, bà T còn nợ lại 178.500.000 đồng chưa trả. Sự việc ông A tham gia chơi hụi của bà T, ông P được một số hụi viên chơi cùng xác nhận là có và hiện còn nợ tiền ông A; hiện bà T, ông P không chỉ nợ tiền hụi của ông A mà còn nợ tiền hụi của nhiều người khác. Như đã nhận định ở phần trên, mặc dù bà T, ông P đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết rõ yêu cầu của người khởi kiện nhưng vắng mặt không có lý do tại các phiên họp và phiên tòa, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ chứng minh đã trả tiền hụi cho ông A là tự mình từ bỏ nghĩa vụ chứng minh nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc này. Do đó, xét yêu cầu khởi kiện của ông A là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471, Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 27 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 15, khoản 2 Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 21, Điều 22, Điều 23, Điều 25 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn A. Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn A số tiền nợ hụi 178.500.000 (Một trăm bảy mươi tám nghìn năm trăm) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí:
- Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Trần Văn P phải chịu 8.925.000 (Tám triệu chín trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.
- Ông Nguyễn Văn A được nhận lại 4.375.000 (Bốn triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002526 ngày 02-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự hoặc người đại diện theo ủy quyền của đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của đương sự vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Cai Lậy; - Chi cục THADS huyện Cai Lậy; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | Nguyễn Anh Thực |