vanban.org

Bản án 198/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 09/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 6 năm 2021. Bị cáo Nguyễn Hữu M phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 198/2021/HS-ST
Ngày: 09 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT – TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Út

2. Ông Ngô Hoàng Sĩ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2021 tại Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 204/2021/HSST ngày 18 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2021/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 10 năm 2021, đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu M (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/10/2002 tại N; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm 5, xã B, huyện Y, tỉnh N; Chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Nguyễn Hữu S, sinh năm: 1972; Mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1976; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 16/9/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh N xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 98/2019/HSST ngày 16/9/2019). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/02/2020, chấp hành xong án phí ngày 26/02/2020.

Ngày 22/6/2021, bị bắt, giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát đến nay. Bị cáo có mặt

Bị hại: Nguyễn Tiến G – sinh năm: 1984; địa chỉ: Khu phố 6, phường T, thị xã B, tỉnh B. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 22/6/2021, trong lúc lực lượng Công an phường Thới Hòa đang tuần tra trên đoạn đường D9 thuộc khu vực khu phố 6, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, thì phát hiện Nguyễn Hữu M có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra hành chính đối với M. Qua làm việc, M khai nhận:

Vào khoảng 14 giờ, ngày 21/06/2021, M đi bộ ngang qua quán cà phê O, cạnh đường TC1-G9 thuộc Khu phố 6, phường T, thị xã B, tỉnh B, thấy quán nghỉ bán, phía bên hông quán có võng, do mệt nên M vào nằm trên võng ngủ. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, anh Nguyễn Tiến G (sinh năm 1984, hộ khẩu thường trú: Thôn Vô H, xã T, huyện T, tỉnh T) là chủ quán O điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Nisan Navara, biển số 61C - 296.50 về đến đỗ tại vỉa hè phía trước quán. Anh G đi vào khóa cửa hàng rào rồi đi vào phòng phía bên trong quán O ngủ.

Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/06/2021, M thức dậy thì nảy sinh ý định vào bên trong quán O tìm tài sản lấy trộm mang đi bán lấy tiền tiêu xài nên chui qua khe hàng rào vào bên trong quán O. Tại khu vực quầy, M phát hiện trong hộp nhựa màu đỏ có 01 chìa khóa xe ô tô, M cầm bấm thử thì thấy đèn xe ô tô biển số 61C - 296.50 sáng lên. Lúc này, M đi lại mở cửa xe ô tô, vào trong lục tìm, lấy được 01 máy tính xách tay màu đen – xám, hiệu ASUS TP550LA 360-Degree Flip để trong ba lô trên ghế sau của xe. Sau đó, M mang chìa khóa xe đặt lại vị trí cũ rồi cầm máy tính vừa lấy được đi tìm nơi tiêu thụ thì bị bị lực lượng tuần tra phát hiện.

Vật chứng thu giữ: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS TP550LA,360-Degree Flip, màu đen – xám, core I3-4030U 1,9GHz, 4GB RAM, 500GB HDD, Intel HD Graphic.

Tại Kết luận định giá tài sản số 81/KLHĐĐGTS ngày 28/6/2021 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thị xã Bến Cát, kết luận: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS TP550LA,360-Degree Flip, màu đen – xám, core I3-4030U 1,9GHz, 4GB RAM, 500GB HDD, Intel HD Graphic,đã qua sử dụng trị giá 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).

Cáo trạng số 204/CT-VKS - BC ngày 18/10/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Hữu M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về Kết luận định giá tài sản, Kết luận điều tra, Cáo trạng và đồng ý với tội danh Viện Kiểm sát truy tố.

Bị hại là anh Nguyễn Tiến G thống nhất với kết luận định giá tài sản, tội danh đối với bị cáo.

Về phần dân sự: Anh G đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 08 (tám) đến 10 (mười) tháng tù.

Tại phiên tòa bị cáo đồng ý đối với toàn bộ Cáo trạng, bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi mình đã thực hiện. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng số 204/CT - VKS - BC ngày 18/10/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát đã truy tố, đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 22/6/2021, Nguyễn Hữu M đã có hành vi lén lút đi vào trong khuôn viên của quán cà phê O trên đường TC1 – G9 thuộc khu phố 6, phường Thới Hòa, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương để tìm tài sản, trộm cắp lấy tiền tiêu xài. Sau khi phát hiện chìa khóa xe ô tô của anh Nguyễn Tiến G tại quầy, M đã bấm nút mở khóa xe, mở cửa xe ô tô của anh G, vào trong xe và trộm cắp 01 máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS TP550LA,360-Degree Flip, màu đen – xám, core I3-4030U 1,9GHz, 4GB RAM, 500GB HDD, Intel HD Graphic.

Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, tài sản hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Tại thời điểm thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi thành niên thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, tài sản trộm cắp được định giá là 4.000.000 đồng. Như vậy đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng số: 204/CT - VKS - BC ngày 18/10/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội.

[03 Xét tính chất, mức độ hành vi bị cáo thực hiện thì thấy: Ngày 16/9/2019, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh N xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/02/2020. Do thời điểm phạm tội, bị cáo chưa thành niên nên nay không xác định là tiền án đối với bị cáo nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, xem thường pháp luật, không biết tu dưỡng, rèn luyện bản thân, thích hưởng thụ nhưng lại lười lao động. Do đó cần có một hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ hành vi bị cáo đã thực hiện để giáo dục bị cáo chấp hành nghiêm pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.

Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, không có nghề nghiệp, nơi cư trú ổn định, học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, tuy nhiên do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị thiệt hại đã được thu hồi trả cho bị hại. Bị hại không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, hình phạt đối bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 6 năm 2021.

2. Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Hữu M phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ