vanban.org

Bản án 198/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn M."
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!M!
TỈNH!TIỀN!GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:198/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 04/11/2019
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!M,!TỈNH!TIỀN!GIANG!

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ!Thị!Thuận!Thảo.! Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn!Văn!Long. 2. Bà Phan!Thị!Đẹp. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M tham gia phiên toà: Ông Nguyễn! Việt!Phương – Kiểm sát viên. Thư ký phiên tòa: Bà Võ!Thị!Kiều!- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 04 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 506/2018/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 07 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2019/QĐXX-ST ngày 01 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 123/2019/QĐST – HN ngày 17 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn!Thị!Thanh!T,!sinh năm 1977. (Có mặt)!

Địa chỉ: T, khu tái định cư ấp B, xã A, TP M, tỉnh Tiền Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Có Luật sư Dương!Thị!Kim!L – Luật sư của Văn phòng luật sư Kim L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tiền Giang bảo vệ quyền lợi cho chị Nguyễn!Thị!Thanh!T. (Có đơn xin vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Nguyễn!Văn!M,!sinh năm 1970. (Vắng mặt)

Địa chỉ: T, khu tái định cư ấp B, xã A, TP M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

* Tại!đơn!khởi!kiện!ngày!10/07/2019!và!trong!quá!trình!giải!quyết!vụ!án,! nguyên!đơn!chị!Nguyễn!Thị!Thanh!T!trình!bày:!!

Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn M tự nguyện sống chung vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND Phường S, TP M, tỉnh Tiền Giang ngày 30/08/2004. Anh chị sống hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2007 có mâu thuẩn xảy ra. Nguyên nhân do anh M không tôn trọng chị và gia đình chị, thường xuyên bạo hành đánh đập mắng chưởi xúc phạm chị, anh M không quan tâm đến vợ con và có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nên dẫn đến bất đồng quan điểm sống vợ chồng thường xuyên có mâu thuẩn cự cãi. Anh chị đã tự ly thân từ tháng 12 năm 2018 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng đã hết không còn khả năng hàn gắn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 12/06/2007 hiện chị T đang chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng M theo nguyện vọng của cháu Minh. Do cháu M bị bệnh Hemophilia A nên phải điều trị bệnh từ nhỏ cho đến nay nên chị T yêu cầu anh Nguyễn Văn M cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu M tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng khi án có hiệu lực pháp luật.

Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn M, Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang đã thực hiện việc tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng thủ tục hợp lệ. Bị đơn Nguyễn Văn M dù đã nhận Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng không nộp bản tự khai trình bày ý kiến của mình, không dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M có ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của vụ án là vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về tình cảm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 12/06/2007. Anh Nguyễn Văn M phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Minh tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng khi án có hiệu lực pháp luật. Anh M được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

- Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày chị T và anh Nguyễn Văn M không có nợ chung nên không xem xét giải quyết.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh T là tranh chấp “Ly hôn”. Bị đơn anh Nguyễn Văn M cư trú tại T, khu tái định cư ấp B, xã A, TP M, tỉnh Tiền Giang.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

[2] Bị đơn anh Nguyễn Văn M vắng mặt không có lý do tại phiên tòa mặc dù đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn M.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn M tự nguyện sống chung từ năm 2004 có đăng ký kết hôn tại UBND Phường S, TP M, tỉnh Tiền Giang ngày 30/08/2004 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Nhận thấy mâu thuẩn giữa chị T và anh M là do anh M thường xuyên bạo hành đánh đập mắng chưởi xúc phạm chị T, anh M không quan tâm đến vợ con nên dẫn đến bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên có mâu thuẩn cự cãi. Xét thấy, mục đích của hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn M không đạt được, tình cảm vợ chồng đã hết không còn khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài do anh chị đã tự ly thân từ tháng 12 năm 2018 cho đến nay. Do vậy chị Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn M là có cơ sở.

Yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Thanh T là có căn cứ theo Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thanh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 12/06/2007 theo nguyện vọng của cháu M. Do cháu Nguyễn Hoàng M bị bệnh Hemophilia A nên phải điều trị bệnh từ nhỏ cho đến nay cho nên chị T yêu cầu anh Nguyễn Văn M cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Nguyễn Hoàng M tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng khi bản án có hiệu lực pháp luật. Yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thanh T là phù hợp với Điều 81, Điều 82, Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

[6] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày chị T và anh Nguyễn Văn M không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Tại bài bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho chị Nguyễn Thị Thanh T đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Nguyễn Thị Thanh T: Về tình cảm: Chị T yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn M; Về con chung: Chị T yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 12/06/2007 theo nguyện vọng của cháu M. Do cháu M bị bệnh máu không đông bẩm sinh từ nhỏ phải điều trị thường xuyên theo định kỳ và lâu dài nên cần rất nhiều tiền cho việc chăm sóc điều trị bệnh cho cháu. Chị T yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/tháng. Qua ý kiến của Luật sư tại bài bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Nguyễn Thị Thanh T, Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở nên chấp nhận.

[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Anh!Nguyễn Văn M!phaûi!chòu!aùn!phí!veà!nghóa!vuï!caáp!döôõng!theo!quy! ñònh!taïi!ñieåm!a!khoản 6 Điều 27 Nghò!quyeát!soá!326/2016/UBTVQH14!ngaøy! 30/12/2016!cuûa!UÛy!ban!thöôøng!vuï!Quoác!hoäi.!

Vì các lẽ trên.

QUYẾT!ĐỊNH!

!- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. !

- Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 và! ñieåm! a! khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh T.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với anh!Nguyễn Văn M.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng M, sinh ngày 12/06/2007 cho chị Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Văn M! phải cấp dưỡng nuôi con hàng tháng 2.000.000 đồng/tháng kể từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Nguyễn Hoàng M tròn 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được ngăn cản người đó thực hiện quyền nầy.

3. Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

4. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày chị Tuyền và anh! Nguyễn Văn M không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh T phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng. Chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí thành án phí hôn nhân sơ thẩm (theo biên lai thu tiền số 0000105 ngày 11/07/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố M, tỉnh Tiền Giang).

Anh Nguyễn Văn M!phải chịu 300.000 đồng án phí nghĩa vụ cấp dưỡng.!

6. Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM!

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ