vanban.org

Bản án 198/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 16/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Hoàng D phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Hoàng D 06 (sáu) tháng tù, nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mƣời hai) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Thị Hoàng D cho Ủy ban nhân dân phƣờng Bình An, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trƣờng hợp ngƣ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị Hoàng D phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 198/2017/HSST
Ngày 16-8-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Minh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Phú Tâm.

2. Bà Nguyễn Hồng Gấm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đình Đông Quân, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn Rơi - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 196/2017/HSST ngày 06 tháng 7 năm 2017 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 208/2017/HSST-QĐ ngày 04 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:

Lê Thị Hoàng D, sinh năm 1983 tại Nam Định; thƣờng trú: 39/2 khu phố 5, phƣờng T, thành phố B, tỉnh N; chỗ ở: 262/11 đƣờng N, phƣờng B, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Lê Tấn T, sinh năm 1958 và bà Đinh Thị Thanh H, sinh năm 1962; bị cáo có 01 anh ruột sinh năm 1981, có chồng tên Lâm Quốc D, sinh năm 1960 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người bị hại: Bà Lê Kim L, sinh năm 1987; thƣờng trú: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: 17/3A khu phố T, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Lâm Quốc D, sinh năm 1960; thƣờng trú: khóm T, phƣờng M, thành phố L, tỉnh An Giang; chỗ ở: 262/11 đƣờng N, phƣờng B, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

2/ Bà Nguyễn Thị Hồng Y, sinh năm 1977; thƣờng trú: 739/10 đƣờng X, Phƣờng A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

1/ Ông Văn Tấn S, sinh năm 1996; thƣờng trú: 122/11 khu phố T, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

2/ Ông Nguyễn Thế Đ, sinh năm 1966; thƣờng trú: xã M, huyện V, tỉnh Nam Định; chỗ ở: 359 Lý Thƣờng K, khu phố T, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

3/ Ông Hứa Văn K, sinh năm 1966; thƣờng trú: khối 4, thị trấn N, huyện T, tỉnh Quảng Nam; chỗ ở: 22/3A khu phố T, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 15 giờ ngày 17/5/2017, Lê Thị Hoàng D điều khiển xe mô tô biển số 51S9-9198 đi từ thành phố B, tỉnh N về nhà trọ tại 262/11 đƣờng N, phƣờng B, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh, khi đến quán nƣớc giải khát B tại 17/3A khu phố T, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng do bà Lê Kim L làm chủ. D hỏi bà L có giao nƣớc cho Công ty không thì bà L trả lời có, D nói bà L xay 01 ly sinh tố để uống thử và D hỏi mƣợn điện thoại của bà L để gọi về nhà, sau đó D trả lại cho bà L trong lúc đó thì bà L đang xay sinh tố nên bà L nói D để điện thoại trên nóc tủ lạnh cách chỗ D ngồi khoảng 03mét. D tiếp tục nói bà L xay thêm 02 ly sinh tố, lợi dụng lúc bà L quay mặt vào trong để xay sinh tố, D đi đến tủ lạnh lấy điện thoại Sam Sung Galaxy A8 của bà L bỏ vào túi quần bên phải và nói với bà L ra ngoài mua nƣớc ngọt. Thấy nghi ngờ, bà L đến tủ lạnh không thấy điện thoại nên đuổi theo D nắm đƣợc baga xe kéo lại và truy hô, D ném điện thoại xuống đƣờng và điều khiển xe đi đƣợc khoảng 50m thì bị ông Văn Tấn S bắt giữ giao cho công an phƣờng Dĩ An lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang.

Theo kết luận định giá số 99/BB.ĐG ngày 23/5/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án là 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A8, màu vàng đồng có giá 4.000.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, ngƣời bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá số 99/BB.ĐG ngày 23/5/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An nêu trên.

Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án: 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A8, hiện đã đƣợc thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại và ngƣời bị hại không yêu cầu gì khác.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu AttiLa biển số 51S9-9198 của ông Lâm Quốc D cho bị cáo mƣợn, không biết bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông D.

Tại cáo trạng số 201/QĐ - KSĐT ngày 06 tháng 7 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lê Thị Hoàng D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 06 tháng đến 08 tháng tù nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng.

Tại phiên tòa, bị cáo xin đƣợc Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời bị hại, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những ngƣời làm chứng cũng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Lê Thị Hoàng D đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A8, màu vàng đồng có giá 4.000.000 đồng của ngƣời bị hại bà Lê Kim L. Theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự thì “Ngƣời nào trộm cắp tài sản của ngƣời khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dƣới năm mƣơi triệu đồng hoặc dƣới hai triệu đồng nhƣng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chƣa đƣợc xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Nhƣ vậy, hành vi trên đây của bị cáo chiếm đoạt tài sản của ngƣời bị hại có trị giá 4.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản. Cáo trạng số 201/QĐ - KSĐT ngày 06 tháng 7 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhƣng đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của ngƣời bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của ngƣời bị hại là vi phạm pháp luật, nhƣng vì tham lam tƣ lợi mong muốn có tiền để tiêu xài nên đã cố tình thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm g, h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 06/3/2013 bị Tòa án nhân dân quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 20/5/2013, mặc dù đã đƣợc xóa án tích nhƣng khi trở về địa phƣơng bị cáo không tu dƣỡng bản thân trở thành ngƣời lƣơng thiện mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức xem thƣờng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại. Ngƣời bị hại không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hiện bị cáo đang nuôi con nhỏ dƣới 36 tháng tuổi, trong thời gian bị cáo đƣợc tại ngoại luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nƣớc và địa phƣơng. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian cũng không ảnh hƣởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn thị xã Dĩ An. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có điều kiện cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo dƣới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phƣơng nơi cƣ trú cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu AttiLa biển số 51S9-9198 là tài sản hợp pháp của ông Lâm Quốc D. Ông D không có lỗi trong việc bị cáo sử dụng xe mô tô làm phƣơng tiện phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An trả lại cho ông D là đúng theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị Hoàng D phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Hoàng D 06 (sáu) tháng tù, nhƣng cho hƣởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mƣời hai) tháng, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Lê Thị Hoàng D cho Ủy ban nhân dân phƣờng Bình An, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trƣờng hợp ngƣời đang chấp hành thời gian thử thách thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Thị Hoàng D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣời bị hại và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ