- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L - B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị L. Chị Phan Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 197/2024/HNGĐ - ST Ngày 22/8/2024 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Quang Huy và ông Nguyễn Xuân Hiếu.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Tuấn Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện P, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Thành phố Hà Nội, tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện P, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 102/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị L, sinh năm 1985; HKTT: Thôn C, xã H, huyện P, TP Hà Nội; chỗ ở: Thôn Giữa, xã H, huyện P, TP Hà Nội. (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1984; HKTT: Thôn C, xã H, huyện P, Thành phố Hà Nội. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Phan Thị L trình bày:
Chị với anh Nguyễn Văn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng kí kết hôn ngày 25/01/2003 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, Thành phố Hà Nội. Sau khi cưới vợ chồng về chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh B ở Thôn C, xã H. Anh chị chung sống đến tháng 9 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do có nhiều điểm không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng xảy ra cãi vã dẫn tới ly thân từ đó cho đến nay. Anh chị nhiều lần hoà giải nhưng không thể đoàn tụ. Do mâu thuẫn trầm trọng, ly thân đã lâu không thể đoàn tụ nên chị L yêu cầu ly hôn với anh B.
Chị L và anh B có hai con chung là Nguyễn Anh Q, sinh ngày 01/01/2007 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 07/4/2009. Từ khi vợ chồng ly thân chị L trực tiếp nuôi cháu Q, anh B trực tiếp nuôi cháu Tuấn A. Ly hôn chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và để anh B trực tiếp nuôi dưỡng cháu Tuấn A, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
Chị L không yêu cầu tòa án giải quyết về tài sản.
Chị L nhất trí nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Bị đơn anh Nguyễn Văn B qua các lời khai cho rằng:
Anh với chị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng kí kết hôn ngày 25/01/2003 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, Thành phố Hà Nội. Sau khi cưới vợ chồng về chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh B ở Thôn C, xã H. Anh chị chung sống đến tháng 9 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do có nhiều điểm không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung dẫn tới sống ly thân từ đó cho đến nay. Chị L cương quyết ly hôn thì quan điểm của anh B chấp nhận ly hôn.
Chị L và anh B có hai con chung là Nguyễn Anh Q, sinh ngày 01/01/2007 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 07/4/2009. Từ khi vợ chồng ly thân chị L trực tiếp nuôi cháu Q, anh B trực tiếp nuôi cháu Tuấn A. Ly hôn anh B cũng có quan điểm để chị L trực tiếp nuôi cháu Q, anh trực tiếp nuôi cháu Tuấn A.
Anh B không yêu cầu tòa án giải quyết về tài sản.
- Đại diện UBND xã H cung cấp:
Chị Phan Thị L và anh Nguyễn Văn B có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện P, Thành phố Hà Nội. Anh chị chung sống đến tháng 9 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, dẫn tới ly thân từ đó đến nay. Vợ chồng chị L và anh B có hai con chung là Nguyễn Anh Q, sinh ngày 01/01/2007 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 07/4/2009; từ khi ly thân đến nay chị L trực tiếp nuôi cháu Q, anh B trực tiếp nuôi cháu Tuấn A. Anh B, chị L đều làm nông tại địa phương thu nhập khoảng 3-4 triệu đồng/tháng, đều có nhà tại địa phương, đề nghị Tòa giải quyết việc ly hôn và giao con theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Sau khi thảo luận và nghị án. HĐXX nhận thấy:
[1] Về thẩm quyền: Yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P, Thành phố Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Chị Phan Thị L có mặt, anh Nguyễn Văn B vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phan Thị L, HĐXX nhận thấy rằng:
Hôn nhân giữa chị Phan Thị L và anh Nguyễn Văn B là hôn nhân hợp pháp. Qua các chứng cứ, cho thấy, trong quan hệ vợ chồng giữa anh B và chị L đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, vợ chồng không sống chung với nhau; không thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị L.
Về nuôi con chung sau ly hôn: Chị L và anh B có hai con chung là Nguyễn Anh Q, sinh ngày 01/01/2007 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 07/4/2009. Hội đồng xét xử xét thấy kể từ vợ chồng ly thân tháng 9 năm 2023 cho đến nay cháu Q do chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, cháu Tuấn A do anh B trực tiếp nuôi dưỡng phát triển tốt, bản thân các cháu đều có nguyện vọng được tiếp tục được nuôi dưỡng như thực tế, anh B cũng đồng ý quan điểm của chị L giao cháu Q cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Tuấn A cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy chấp nhận yêu cầu của chị L về nuôi con chung, giao cháu Q cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Tuấn A cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của chị L, anh B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Chị Phan Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 143; 144; 147; 271; 273; 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 54, 56, 57, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị L. Chị Phan Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
2. Về con chung:
Chị Phan Thị L và anh Nguyễn Văn B có hai con chung là Nguyễn Anh Q, sinh ngày 01/01/2007 và Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 07/4/2009. Giao chị Phan Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Anh Q; giao anh Nguyễn Văn B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Tuấn A và tạm hoãn cho anh Nguyễn Văn B, chị Phan Thị L việc cấp dưỡng nuôi con cho đến khi có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Văn B, chị Phan Thị L có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
4. Về án phí: Chị Phan Thị L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0015453 ngày 26/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P; chị L đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm
5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện KSND thành phố Hà Nội; - VKSND huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ vụ án… | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Anh Tuấn |