- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn Đ: phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| Toµ ¸n nh©n d©n QUẬN BA ĐÌNH thµnh phè Hµ Néi | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| __________________ B¶n ¸n sè: 197/2023/HSST Ngµy: 23/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đình Trung Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Ngô Bích Liên 2/ Ông Nguyễn Hà
- Thư ký phiên tòa: – Bà Nguyễn Thị Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Khánh - Kiểm sát viên. Ngày 23 th¸ng 11 n¨m 2023, Tại điểm cầu trực tuyến phòng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Hà nội và điểm cầu trực tuyến phòng xét xử Trại tạm giam số 01 – Công an thành phố Hà Nội, Xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 206/2023/TLST-HS ngµy 07/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 442/2023/QĐXXST-HS ngày 09/11/2023 đối với bị cáo: Nguyễn Văn Đ sinh năm 1990; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố P , Thị trấn L, huyện B, tỉnh Lào Cai. Chỗ ở: Không cố định; Nghề nghiệp : Tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Ngọc L (Đã mất) và bà Trần Thị P; Vợ là Nguyễn Thị H sinh năm 1991 (Đã ly hôn); 01
con
gái
sinh
năm
2017; Tiền án: 03 tiền án: Bản án số 35/2011/HSST ngày 08/04/2011, Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 05 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Chưa đóng án phí HSST, án phí DSST, truy thu 5.800.000 đồng (Chưa xóa án). Bản án số 51/2011/HSST ngày 13/05/2011, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt 1 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chưa đóng án phí HSST, án phí DSST, truy thu 5.000.000 đồng. Ra trại 14/11/2016 (Chưa xóa án). Bản án hinh sự số 73/2017/HSST ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 23/07/2021. Ngày 18/08/2023, Tòa án nhân dân huyện B đã có quyết định miễn nghĩa vụ thi hành án số 04/2023/QĐ-MTHA tiền án phí dân sự sơ thẩm 500.000 đồng đối với Nguyễn Văn Đ. Nộp án phí HSST ngày 12/1/2018 , Tiền sự: 01 tiên sự: Tháng 3/2022 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy số 2 tỉnh Lào Cai, đến tháng 12/2022 chấp hành xong trở về địa phương; Nhân thân: Bản án số 12/2010/HSST ngày 08/02/2010, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 20/06/2010. Đóng án phí HSST ngày 24/05/2010 (Đã xóa án); Bị cáo bắt quả tang ngày 17/7/2023; Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam số I – Công an thành phố Hà Nội; (Có mặt tại phiên tòa). Người Bị hại: + Bà Nguyễn Thị H sinh năm 2003; (Vắng mặt). Hiện trú tại: số 19 tổ 8 K, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. + Ông Bùi Minh Q sinh năm 2004; (Vắng mặt). Hiện trú tại: thôn B, xã K, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bản thân Đ nghiện ma túy, không có công ăn việc làm, không có nơi ở cố định. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 17/7/2023, Đ ngồi ở quán nước ở Công viên Lê Nin cạnh tượng đài Lê Nin. Trong khi đang ngồi uống nước, Đ thấy 01 nam giới khoảng 20 tuổi treo 01 túi xách nữ bằng da, màu đen kích thước khoảng 40x30cm vào đuôi xe máy ở gần quán nước. Khoảng 21 giờ 45’ cùng ngày, Đ quan sát không thấy ai trông giữ nên đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc túi xách trên. Ngay sau đó, Đ liền tiến đến gần chiếc túi, dùng tay trái lấy trộm chiếc túi xách rồi đi vòng qua sau tượng đài đi ra hướng ra đường Trần Phú, Hoàng Diệu. Quá trình Đ thực hiện hành vi trộm túi xách bị nhân chứng là anh Phạm Bá H (sinh năm: 1990; HKTT: xã L, H, Hà Tĩnh) cùng ngồi uống nước phát hiện, tri hô “Trộm” và đuổi bắt. Khi Nguyễn Văn Đ bỏ trốn đến gần ngã tư Trần Phú, Hoàng Diệu thì bị người dân và lực lượng Công an phường bắt giữ, thu giữ trên tay phải Đ chiếc túi vừa trộm cắp được, kiểm tra bên trong túi có 01 (một) chiếc điện thoại Iphone Xs màu vàng, 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng. Sau đó, Đ được đưa về trụ sở cơ quan Công an để làm việc.
* Vật chứng thu giữ :
- 01 (một) túi đeo nữ màu đen kích thước khoảng 40x30 cm bên trong có:
+ 01 (một) điện thoại iphone XS 64 GB màu vàng, ốp màu đen, có số IMEI: 35725093247965, có số sim: 0338088410.
+ 01 (một) điện thoại iphone 11 64 GB màu trắng, ốp màu trắng trong, có số IMEI: 356594106339502, có số sim: 0961964845.
Kết luận định giá tài sản số 99/KLĐG-HĐĐGTS ngày 31/07/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Ba Đình, kết luận:
+ 01 (một) túi đeo nữ màu đen kích thước khoảng 40x30 cm có trị giá 150.000 (một trăm năm mươi nghìn đồng).
+ 01 (một) điện thoại iphone XS 64 GB màu vàng, ốp màu đen, có số IMEI: 35725093247965, có số sim: 0338088410 có trị giá 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
+ 01 (một) điện thoại iphone 11 64 GB màu trắng, ốp màu trắng trong, có số IMEI: 356594106339502, có số sim: 0961964845 có trị giá 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại cơ quan điều tra, chị Nguyễn Thị H (sinh năm: 2003, HKTT: Số nhà 19 tổ 8 K, phường L, H, Hà Nội) và anh Bùi Minh Q (sinh năm: 2004, HKTT: Bình Yên K, TP. N, Ninh Bình) trình bày: Khoảng 21h00 ngày 17/7/2023, chị H cùng bạn trai là anh Bùi Minh Q ra khu vực Công viên Lê Nin, phường Điện Biên, Ba Đình, Hà Nội để chơi. Sau đó, anh Q để nhờ điện thoại của mình vào túi xách của chị H và treo 01 (một) túi xách trên xe máy của bà Nguyễn Thị P (sinh năm 1956, HKTT: 15 hẻm 37 ngách 119 ngõ T, Q, Đống Đa, Hà Nội) bán nước, bên trong túi xách có 01 (một) điện thoại Iphone 11 màu trắng của chị H, 01 (một) điện thoại Iphone XS màu vàng của anh Q và cả 2 đi chơi. Khoảng nửa tiếng sau thì chị H thấy người dân tri hô "Trộm", chị H và anh Q thấy có Công an và người dân bắt giữ, khi chị H ra xem thì được biết Nguyễn Văn Đ đã trộm cắp chiếc túi xách của mình bên trong trong túi có 01 (một) chiếc điện thoại Iphone Xs màu vàng, 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 11 màu trắng.
Cơ quan CSĐT Công an quận Ba Đình đã ra Quyết định xử lý vật chứng tiến hành trao trả số tài sản là tang vật vụ án cho các bị hại và người liên quan, cụ thể:
+ Trao trả 01 (một) điện thoại iphone XS 64 GB màu vàng, ốp màu đen, có số IMEI: 35725093247965, có số sim: 0338088410 cho anh Bùi Minh Q.
+ Trao trả 01 (một) túi đeo nữ màu đen kích thước khoảng 40x30 cm, 01 (một) điện thoại iphone XS 64 GB màu vàng, ốp màu đen, có số IMEI: 35725093247965, có số sim: 0338088410 cho chị Nguyễn Thị H. Chị Nguyễn Thị H và anh Bùi Minh Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về bồi thường dân sự.
Tại bản cáo trạng số 198/CT-VKS ngày 03/11/2023 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội Truy tố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “ Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b,g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy bố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử : Căn cứ điểm b,g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 48 tháng đến 60 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Văn Đ tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 17/07/2023, tại khu vực Công viên Lê Nin, phường Điện Biên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Bị cáo Nguyễn Văn Đ đã thực hiện hành vi lén lút, trộm cắp tài sản của anh Bùi Minh Q và chị Nguyễn Thị H, tổng giá trị tài sản là 10.150.000 đồng (mười triệu một trăm năm mươi nghìn đồng); Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 73/2017/HSST ngày 29/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản đã xác định bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm nguy hiểm (Chưa xóa án); Lần phạm tội này của bị cáo Nguyễn Văn Đ được xác định là tái phạm nguy hiểm, Bị cáo phạm tội lần này mục đích để lấy tiền chi tiêu cá nhân là nguồn sống chính được xác định là có tính chất chuyên nghiệp; Bị cáo Nguyễn Văn Đ có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi có ý trực tiếp; Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b,g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, và đúng quy định của pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tuy nhien bị cáo được xác định là có nhân thân xấu.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Sau khi xem xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhấn định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về bồi thường dân sự: Các Bị hại đã nhận lại tài sản; không có yêu cầu bồi thường về dân sự; Nên không xem xét.
VÒ ¸n phÝ: C¨n cø §iÒu 99 Bé luËt tè tông h×nh sù; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ; Kho¶n 1 Môc I Danh môc møc ¸n phÝ lÖ phÝ Toµ ¸n: Bị c¸o ph¶i chÞu 200.000 đồng ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm.
Bị cáo, các Bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017;
V× c¸c lÏ trªn,
QUYÕT ®Þnh:
Căn cứ điểm b,g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Căn cứ vào Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017; Căn cứ vào Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ; Kho¶n 1 Môc I Danh môc møc ¸n phÝ lÖ phÝ Toµ ¸n. Xö phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ: 42 (Bốn mươi hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2023. Miễn hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ. Về bồi thường dân sự: Các Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường về dân sự; Nên không xem xét. VÒ ¸n phÝ : Bị cáo ph¶i chÞu 200.000 (Hai tr¨m ngh×n) ®ång tiÒn ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại được kháng cáo bản án trong thời 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình; - Công an quận Ba Đình; - Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng. - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Đình Trung |