vanban.org

Bản án 197/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 06/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lý Trí T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lý Trí T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, bắt tạm giam 09/10/2021. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lý Trí T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Trí T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 197/2023/HS-ST
Ngày 06 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Lệ Chi và ông Nguyễn Văn Hoàn

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hoài Phương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 7 năm 2023 tại Hội trường A Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 196/2023/HSST ngày 08 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 220/2023/QĐXXST-HS ngày 20/6/2023 đối với bị cáo:

Lý Trí T, sinh năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Số 41/9 khu phố 5, phường B, thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; con ông Lý Xuân T2, sinh năm 1969 và con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1977; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 2005; tiền sự, tiền án: Không có. Bị cáo bị truy nã, sau đó ra đầu thú và bị tạm giữ, bắt tạm giam từ ngày 09/10/2021, có mặt.

Bị hại:

1. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1999; thường trú: Khu phố X, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận, vắng mặt.

2. Anh Lê Thanh B, sinh năm 1996; thường trú: Khu vựcH 2, phường L, thị xã M, tỉnh Hậu Giang, vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Lê Hồng H, sinh năm 1993

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 21/7/2019, sau khi dự tiệc cưới tại nhà hàng “Hoa viên Ngọc Thanh”, thuộc khu phố A, phường H, thị xã K (nay là thành phố K), tỉnh Bình Dương. Anh Lê Thanh B, Nguyễn Văn L, Lê Hồng H cùng một số người bạn (không rõ nhân thân) đứng chụp ảnh (hình) trước khuôn viên nhà hàng. Lúc này, Lý Trí T cùng L2 và L3 (không rõ nhân thân) đến gặp nhóm của anh L dẫn đến mâu thuẫn cãi nhau. Anh L với T đánh nhau bằng tay, sau đó T được L2, L3 dìu đến ngồi bên cạnh chỗ dựng xe môtô của T. T lấy từ trên baga xe môtô nhãn hiệu Wave màu xám biển số 81H4-6265 của T một con dao sử dụng trong điêu khắc dài khoảng 09 cm (cán dao bằng gỗ dài 06 cm, lưỡi dao nhọn dài 03 cm) chạy đến chỗ anh L đâm vào vai phải của anh L một cái, anh L bỏ chạy. Anh B chạy đến túm cổ áo T, T và anh B giằng co, T dùng dao đâm vào vai trái của anh B, anh B ngã xuống đất kéo T ngã theo, T dùng con dao đâm nhiều cái vào vai, lưng của anh B (khoảng 11 - 12 cái), L2, L3 dùng tay không, nón bảo hiểm đánh anh B. Anh L, anh H chạy đến can ngăn. T dùng dao đâm vào ngực của L một cái, trong quá trình xô đẩy với T, anh H bị một vết thương trên ngực bên phải. Sau đó, được mọi người can ngăn nên T, L2, L3 bỏ đi. Trên đường đi về T đã vứt bỏ dao.

Anh H, anh L và anh B được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Hoàn Hảo thuộc phường Linh Xuân, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 22/7/2019, anh B, anh L và anh H có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1055 ngày 20/11/2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đồng Nai, kết luận thương tích của anh Lê Thanh B như sau:

1.Dấu hiệu chính qua giám định: Tổn thương nhu mô phổi trái đã được phẫu thuật dẫn L2 điện dày dính màng phổi trái kèm tổn thương xơ nhu mô phổi bên dưới. Sẹo thái dương trái kích thước (1,5 x 0,4) cm và sẹo thái dương phải kích thước (2 x 0,4) cm. 12 sẹo vùng vai lưng trái kích thước lần lượt là (1 x 0,4) cm; (1 x 0,4) cm; (2 x 0,4) cm, (1 x 0,4) cm, (1,4x 0,3) cm; (1,3x 0,3) cm; (1,3 x 0,3) cm; (3 x 0,3) cm, (3 x 0,3) cm; (6,5 x 0,2) cm; (1,5 x 0,3) cm; (0,8 x 0,3) cm (cơ delta).

2.Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 36%

3. Kết luận khác: Chấn thương đầu do vật tày và thương tích vai, lưng do vật sắc nhọn.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0838 ngày 26/11/2021 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đồng Nai, kết luận thương tích của anh Lê Hồng H như sau:

1.Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo đỉnh vai phải kéo xuống ngực phải kích thước dài 23 cm, rộng nhất 1,5 cm và nhỏ nhất 0,5 cm.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên: 08%.

3. Vật gây thương tích: Vật sắc.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0198 ngày 28/02/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế Đồng Nai, kết luận thương tích của anh Nguyễn Văn L như sau:

1. Dấu hiệu chính của giám định: Sẹo mặt trước vai phải kích thước (03 x 0,7) cm và sẹo ngực bên phải kích thước (02 x 0,6) cm.

2. Tỷ lệ thương tật: 03%.

3. Kết luận khác: Vật gây thương tích: Vật sắc; chấn thương đầu do vật tày; thương tích vai, lưng do vật sắc nhọn.

Tại Bản kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 1131/TgT/2022 ngày 17/10/2022 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Đồng Nai, đối với Lê Thanh B:

1. Dấu hiệu chính qua giám định hồ sơ bệnh án và tài liệu hiện có thể hiện:

- Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 21/7/2019 nạn nhân Lê Thanh B bị đả thương.

- Tổn thương chính: Sẹo thái dương trái kích thước (1,5 x 0,4) cm, sẹo thái dương phải kích thước (02 x 0,4) cm. Vùng vai lưng trái có 12 sẹo kích thước lần lượt là (01 x 0,4) cm; (01 x 0,4) cm; (02 x 0,4) cm, (01 x 0,4) cm, (1,4x 0,3) cm; (1,3x 0,3) cm; (1,3 x 0,3) cm; (3 x 0,3) cm, (3 x 0,3) cm; (6,5 x 0,2) cm; (1,5 x 0,3) cm; (0,8 x 0,30 cm (cơ delta). Dày dính màng phổi trái kèm tổn thương xơ nhu mô phổi bên dưới.

2. Kết luận theo nội dung trưng cầu, yêu cầu giám định:

- Tổn thương để lại sẹo thái dương trái kích thước (1,5x 0,4) cm. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng thái dương trái với lực vừa đủ theo hướng từ trái qua phải và chếch từ trên xuống dưới gây nên.

- Tổn thương để lại sẹo thái dương phải kích thước (02 x 0,4) cm. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng thái dương phải với lực vừa đủ theo hướng từ phải qua trái và chếch từ trên xuống dưới gây nên.

- Tổn thương vai lưng trái để lại 11 sẹo kích thước lần lượt là (01 x 0,4) cm; (01 x 0,4) cm; (2 x 0,4) cm, (1 x 0,4) cm, (1,4x 0,3) cm; (1,3x 0,3) cm; (1,3 x 0,3) cm; (3 x 0,3) cm, (3 x 0,3) cm; (6,5 x 0,2) cm; (1,5 x 0,3) cm; dày dính màng phổi trái kèm tổn thương xơ nhu mô phổi bên dưới. Tổn thương này do vật sắc nhọn lần lượt tác động vào vùng vai lưng trái với lực đủ mạnh theo hướng từ sau ra trước và chếch từ trái qua phải gây nên. Trong 11 vết thương vai lưng trái đều có khả năng gây thấu khoang ngực, gây tràn máu và để lại dày dính màng phổi trái. Ba vết thương kích thước (03 x 0,3) cm, (03 x 0,3) cm, (6,5 x 0,2) cm có thể gây tổn thương nhu mô phổi dẫn đến xơ nhu mô phổi bên dưới.

- Tổn thương vai, lưng để lại sẹo (0,8 x 0,3) cm (cơ delta). Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng cơ delta trái với lực vừa đủ theo hướng từ trái qua phải và từ ngoài vào trong gây nên.

- Với vết thương gây ra tổn thương nhu mô phổi trái đã được phẫu thuật dẫn L2 hiện dày dính màng phổi trái kèm tổn thương xơ nhu mô phổi bên dưới: tỷ lệ 36% nếu không cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong không? Nạn nhân Lê Thanh B vào viện trong tình trạng khó thở nên tổn thương của nạn nhân thuộc loại cấp cứu khẩn cấp, nếu không cấp cứu kịp thời sẽ gây ảnh hưởng đến tính mạng nạn nhân.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn L yêu cầu bồi thường 10.000.000 đồng, anh Lê Thanh B yêu cầu bồi thường 5.000.000 đồng. Gia đình bị cáo T đã bồi thường xong. Anh B, anh L không có yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho T.

Quá trình điều tra không xác định được thương tích của anh Lê Hồng H do ai gây ra, đồng thời bị cáo Lý Trí T cũng không thừa nhận gây thương tích cho anh H không nên không đủ căn cứ để xử lý. Anh H không yêu cầu bồi thường và đã có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Đối với con dao sử dụng trong điêu khắc dài khoảng 09 cm (cán gỗ dài 06 cm, lưỡi nhọn dài 03 cm), T sử dụng gây thương tích cho anh B, anh L. T đã vứt bỏ khi bỏ đi nên không thu hồi được.

Đối với L2, L3 do không rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đang tiếp tục xác minh xử lý sau.

Cáo trạng số 353/CT – VKS ngày 02 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lý Trí T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt Bộ Luật hình sự)

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự xử phạt bị cáo Lý Trí T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và các bị hại đã bồi thường xong và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Không xem xét giải quyết.

Bị cáo Lý Trí T không tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết việc mình làm là sai, vi phạm pháp L. Bị cáo xin được giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Chứng cứ xác định có tội của bị cáo Lý Trí T: Ngày 21/7/2019 bị cáo T sử dụng 01 con dao dài khoảng 9 cm (cán gỗ dài khoảng 6 cm, lưỡi nhọn dài khoảng 3 cm) đâm vào vùng vai, lưng trái của anh Lê Thanh B làm anh B bị thương tích 36 %, đâm vào ngực anh Nguyễn Văn L, làm anh L bị thương tích 3%. Hành vi trên của bị cáo T là hành vi của tội “Cố ý gây thương tích” quy điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 353/CT-VKS ngày 02/11/2022 của Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo T về tội “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ Luật Hình sự là có căn cứ pháp Luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Tình tiết trên được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo T có nhân thân tốt thể hiện việc không có tiền án tiền sự.

[6] Về tính chất mức độ tội phạm: Bị cáo T phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng do có khung hình phạt đến 10 năm tù. Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe bị hại Luật, B được pháp L bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn, tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại L, B đã được bồi thường và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Hội đồng xét xử không xét.

[8] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân mức hình phạt đối với bị cáo T phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận.

[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo T phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lý Trí T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lý Trí T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, bắt tạm giam 09/10/2021.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14

Bị cáo Lý Trí T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm .

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ