- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 197/2023/HS-ST Ngày: 25 - 9 - 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Huỳnh Hữu Tường.
2/ Ông Nguyễn Văn Tiên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Phú Tuấn – Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Quyên – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 và 25/9/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 215/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 1007/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng T; giới tính: Nam; sinh năm: 1995; sinh tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Phường 5, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Khu phố 3B, phường Thạnh Lộc, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Đức T1, con bà Trương Thị Kim Ch; có vợ Nguyễn Thị A, có 01 người con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Quyết định 383/2016/QĐHC-ST ngày 06/4/2016 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 16 tháng. Ngày 17/6/2017 chấp hành xong.
Bị cáo tại ngoại. (có mặt)
Bị hại: Chị Phạm Thảo D; sinh năm: 2001; địa chỉ: Khu phố 5, phường Thạnh Xuân, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị A; sinh năm: 1997; địa chỉ: Khu phố 3B, phường Thạnh Lộc, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 45 phút ngày 21/01/2023 Nguyễn Thị A là vợ Nguyễn Hoàng T cùng với bạn Phạm Thảo D đi về nhà của Nguyễn Hoàng T tại chỉ số 261/27/5 Tổ 16, Khu phố 3B, phường Thạnh Lộc, Quận 12. Lúc này, T đang nằm ngủ trên gác, D đứng ngoài cửa còn A đi lên gác gặp T để yêu cầu T mở mật khẩu Icloud điện thoại của A nhưng T không đồng ý mở nên dẫn đến cãi nhau, T ném ca nước đá vào cửa phòng. D từ cửa nhà chạy lên gác vì A nhờ cầm giùm điện thoại. Khi D cầm điện thoại của A đi ra ngoài thì T từ trên gác đi xuống lấy cây gắp đá bằng kim loại để ở nền nhà tầng trệt đuổi theo ném vào mặt của D gây thương tích. D được đưa đi sơ cứu, điều trị vết thương tại Bệnh viện Quân Y 175. Sau khi sự việc xảy ra chị Phạm Thảo D đến Công an phường trình báo.
Ngày 21/01/2023 chị Phạm Thảo D có đơn yêu cầu giám định thương tật và xử lý hình sự đối với Nguyễn Hoàng T
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 85/TgT.23 ngày 21/02/2023 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đối với Phạm Thảo D.
Dấu hiệu chính qua giám định:
Vết thương vùng mũi – má trái gây đứt da, đứt sụn cánh mũi đã được điều trị khâu vết thương, hiện còn một sẹo kích thước 5,3 x (0,2-0,4) cm, tình trạng ổn định.
2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:
Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 6%.
3. Kết luận khác:
- Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.
Vật chứng thu giữ: 01 cây gắp đá bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 35 cm.
Về phần dân sự: Bị hại Phạm Thảo D yêu cầu bồi thường số tiền 183.000.000 đồng là tiền thuốc, chi phí điều trị vết thương, tổn thất tinh thần nhưng đến nay Nguyễn Hoàng T chưa có khả năng bồi thường.
Tại Bản cáo trạng số 168/CT-VKS-Q12 ngày 31/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 truy tố Nguyễn Hoàng T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bị hại thay đổi yêu cầu bồi thường và yêu cầu bị cáo bồi thường 80.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền này.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù theo điểm a khoản 1 Điều 134, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 cây gắp đá bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 35 cm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy, vào lúc 19 giờ 45 phút ngày 21 tháng 01 năm 2023 tại chỉ số 261/27/5 Tổ 16, Khu phố 3B, phường Thạnh Lộc, Quận 12, Nguyễn Hoàng T đã thực hiện hành vi dùng cây gắp đá bằng kim loại là hung khí nguy hiểm ném về phía chị Phạm Thảo D gây thương tích 06% cho chị D, chị D có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với T. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 80.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này. Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho bị hại 80.000.000 đồng. Bồi thường toàn bộ số tiền ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Về vật chứng vụ án: 01 cây gắp đá bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 35 cm là công cụ phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Theo các điều 23, 26 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo bồi thường số tiền 80.000.000 đồng nên án phí dân sự sơ thẩm phải nộp là 4.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 357, 590 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T bồi thường cho chị Phạm Thảo D số tiền 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng. Bồi thường toàn bộ số tiền ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày chị Phạm Thảo D có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bị cáo Nguyễn Hoàng T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 cây gắp đá bằng kim loại màu trắng, dài khoảng 35 cm.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 136/QĐ-VKS ngày 31/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12).
Về án phí: Căn cứ vào các điều 23, 26 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, nộp 4.000.000 (bốn triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Tp.Hồ Chí Minh; (1) - VKSND Tp.Hồ Chí Minh; (1) - VKSND Quận 12; (2) - Chi cục THADS Quận 12; (1) - Sở Tư pháp Tp.Hồ Chí Minh; (1) - Phòng hồ sơ NVCS (PC.53); (1) - Cơ quan CSĐT Công an Quận 12; (1) - Thi hành án hình sự; (4) - Bị cáo; (1) - Những người tham gia tố tụng khác; (2) - Lưu VT, hồ sơ vụ án. (2) (17) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Bá Hiệp |