- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Huỳnh Ngọc S phạm tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luậ…"
- Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 197/2023/HS-PT Ngày: 24-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh Ông Phạm Minh Tùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhựt Minh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Liệt - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự ph c thẩm thụ lý số: 155/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Huỳnh Ngọc S. Do có kháng cáo c a ị cáo Huỳnh Ngọc S đối với ản án hình sự sơ thẩm số: 30/2023/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2023 c a Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
- Bị cáo c hán cáo: Huỳnh Ngọc S (Chuột), sinh năm 1988, tại Đồng Tháp; Nơi c tr : Tổ A, ấp D, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Mua án; Con ông Huỳnh Văn N (chết) và à Phan Thị H; Có vợ tên Lê Thị T, sinh năm 1989 và có 01 ng ời con sinh năm 2022; Tiền sự, Tiền án: Không; Tạm giữ: Không, bị bắt, tạm giam: Ngày 21/4/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Tron vụ án còn c các bị cáo Đỗ Văn H1, Nguyễn Thị B và bị h i không kháng cáo; Vi n i m át h n hán n hị.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Huỳnh Văn Út N1 có mâu thuẫn từ tr ớc với Nguyễn Vĩnh T1 và Đổ Văn H2. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 09/3/2022, Huỳnh Ngọc S, H2, Nguyễn Thị B (là vợ c a H2) cùng uống r ợu tại nhà c a T1 cùng với Bạch Văn Út B1 và ng ời tên H3, đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày thì nghỉ nên T1 điều khiển xe mô tô (không rõ đặc điểm) chở Huỳnh Ngọc S đi từ xã M, thành phố C về xã P, huyện C để về nhà H2 uống r ợu tiếp và hát karaoke. Khi đến đoạn đ ờng gần cống B thuộc Tổ I, Ấp D, xã M, thành phố C thì gặp anh Huỳnh Văn Út N1 đậu xe ên đ ờng nên T1 dừng xe lại rồi cùng với S đi đến nói chuyện với anh Út N1 thì xảy ra cự cải đánh nhau. T1 và S nhặt trên đ ờng 01 kh c gỗ khô có chiều dài 231cm, ề hoành 16,5cm, trọng l ợng 1,70kg và 01 khúc gỗ khô có chiều dài 211cm, bề hoành 16,5cm, trọng l ợng 1,80kg đánh vào đầu, l ng, chân c a anh Út N1 thì Út N1 dùng tay chống đỡ. Lúc này, H2 và B cũng chạy xe đến, định can ngăn nh ng ị Út N1 giật cây từ T1 đánh tr ng l ng c a H2 nên H2 lao vào ôm chặt hai tay Út N1, còn T1 ôm cổ, câu vật Út N1 ngã xuống đ ờng rồi dùng tay, chân đánh đạp và B sử dụng 01 chiếc dép ằng nhựa màu vàng đánh tr ng ng ời, vùng cổ, cạnh hàm c a anh Út N1 nên anh Út N1 cắn trúng vành tai phải c a T1 chảy máu nên tất cả ngừng đánh nhau và đi về nhà. Trong lúc các bị cáo và bị hại đánh nhau có Bạch Văn Út B1 và ng ời tên H3 (không rõ họ tên địa chỉ) có đến hiện tr ờng nh ng không gi p sức và không tham gia đánh ng ời bị hại.
Sau khi bị đánh, anh Huỳnh Văn Út N1 đến cơ sở y tế điều trị th ơng tích nh ng không nằm viện mà điều trị ngoại trú và ngày 12/3/2022 thì làm đơn tố giác, yêu cầu xử lý hình sự ng ời gây th ơng tích cho mình. Bị hại Huỳnh Văn Út N1 khai trong l c đánh nhau mình ị rớt mất số tiền 10.280.000đ, 01 cái óp da màu đen, 02 giấy đăng ký xe mô tô ( ị hại không nhớ ng ời đứng tên), 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Huỳnh Văn Út N1. Nay bị hại Út N1 yêu cầu các bị cáo phải bồi th ờng số tiền 10.280.000đ ị mất, các tài sản còn lại không yêu cầu. Tuy nhiên, quá trình điều tra Út Nhỏ không cung cấp đ ợc tài liệu gì để chứng minh có tài sản trên và không thấy ai chiếm đoạt tài sản c a mình, cũng nh không có căn cứ chứng minh các bị cáo đã chiếm đoạt tài sản nêu trên.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về th ơng tích số 155/TgT ngày 14/4/2022 c a Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận: Huỳnh Văn Út N1 bị gãy x ơng àn V àn tay phải gây biến dạng x ơng àn V àn tay phải, tỷ lệ tổn th ơng cơ thể c a Út N1 do th ơng tích gây nên hiện tại là 12%. Tại thời điểm giám định, theo nguyên tắc cộng lùi. Tổn th ơng trên do vật tày gây ra và cơ chế hình thành do ngoại lực tác động trực tiếp.
Về tài sản, vật chứng tạm giữ: 01 kh c gỗ khô có chiều dài 231cm, ề hoành 16,5cm, trọng l ợng 1,70kg; 01 khúc gỗ khô có chiều dài 211cm, bề hoành 16,5cm, trọng l ợng 1,80kg và 01 chiếc dép bằng nhựa màu vàng (đã qua sử dụng). Đây là vật chứng các bị cáo sử dụng gây th ơng tích cho ị hại.
Đối với hành vi tụ tập nhiều ng ời đánh nhau c a Huỳnh Ngọc S, Đổ Văn H2, Nguyễn Thị B và Nguyễn Vĩnh T1 tại nơi công cộng nh ng chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, đ ờng nông thôn, dân c th a thớt ít ng ời qua lại, mức độ vi phạm không lớn, qua xác minh tại địa ph ơng không có ai phản ánh vụ việc nêu trên, ch a đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi gây rối trật tự công cộng nên không xem xét xử lý.
Đối với Huỳnh Văn Út N1 khi bị đánh thì có hành vi đánh lại bị cáo S, H2 (không để lại th ơng tích) và cắn vành tai phải c a T1 chảy máu. Quá trình điều tra, các bị cáo nêu trên không yêu cầu giám định th ơng tích và không yêu cầu xử lý hình sự.
Trong quá trình điều tra các bị cáo Huỳnh Ngọc S, Đổ Văn H2, Nguyễn Thị B thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội đ ng nh nội dung đã nêu trên và phù hợp với lời khai ng ời bị hại, các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Riêng bị cáo Nguyễn Vĩnh T1, sau khi phạm tội đã ỏ trốn khỏi địa ph ơng, ch a rõ đi đâu, hiện cơ quan điều tra đang ra Quyết định truy nã.
Tại ản án hình sự sơ thẩm số: 30/2023/HS-ST ngày 26/4/2023 c a Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã quyết định:
Tuyên ố các ị cáo Huỳnh Ngọc S, Đổ Văn H2 và Nguyễn Thị B cùng phạm tội “Cố ý ây thươn tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 c a Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/4/2023.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Đỗ Văn H1 02 năm tù; ị cáo Nguyễn Thị B 02 năm tù nh ng cho h ởng án treo; tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 03 tháng 5 năm 2023, ị cáo Huỳnh Ngọc S có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nh hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát iểu quan điểm: Hành vi c a bị cáo Huỳnh Ngọc S bị Tòa án cấp sơ thẩm quy kết về tội Cố ý gây th ơng tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 c a Bộ luật hình sự là có căn cứ, đ ng ng ời, đ ng tội và đ ng quy định c a pháp luật. ét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra. Bị cáo Huỳnh Ngọc S kháng cáo xin giảm nh hình phạt nh ng không cung cấp chứng cứ gì mới để làm căn cứ xem xét cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nh hình phạt c a ị cáo, giữ nguyên phần quyết định c a ản án sơ thẩm về hình phạt đối với ị cáo Huỳnh Ngọc S.
Bị cáo Huỳnh Ngọc S không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho ị cáo.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
[1] Tại phiên tòa ph c thẩm, ị cáo Huỳnh Ngọc S đã thừa nhận toàn ộ hành vi phạm tội c a mình. Lời khai nhận tội c a ị cáo phù hợp với lời khai c a ị cáo trong quá trình điều tra cũng nh tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai c a các bị cáo đồng phạm, ng ời bị hại, ng ời làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đ cơ sở để xác định: Do Nguyễn Vĩnh T1, Đổ Văn H2 có mâu thuẫn với anh Huỳnh Văn Út N1 từ tr ớc nên khoảng 12 giờ 30 phút ngày 09/3/2022 bị cáo S và T1 chạy xe đến khu vực cống B thuộc tổ I, ấp D, xã M, thành phố C, nhìn thấy Huỳnh Văn Út N1 đậu xe ên đ ờng nên dừng xe lại, rồi cả hai cùng đi đến nói chuyện với Út N1 thì xảy ra cự cải đánh nhau. T1, S sử dụng hung khí là cây gỗ nhặt trên đ ờng Đ. Lúc này, Đổ Văn H2 và Nguyễn Thị B cũng chạy xe đến can ngăn thì ị Út N1 dùng cây đánh tr ng l ng nên H2 lao vào ôm câu vật Út N1 ngã xuống đ ờng dùng tay chân đánh đạp còn B dùng dép đánh ị hại để giúp sức H2 và S gây th ơng tích cho anh Huỳnh Văn Út N1 với tỷ lệ tổn th ơng cơ thể c a c a Huỳnh Văn Út N1 do th ơng tích gây nên là 12% tại thời điểm giám định.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi c a ị cáo Huỳnh Ngọc S là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến sức khỏe c a ng ời khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là ng ời đã thành niên, có thể chất, tinh thần phát triển ình th ờng, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức đ ợc pháp luật, có đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. uất phát từ mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã dùng cây gỗ đánh Út N1 gây th ơng tích. Bị cáo nhận thức đ ợc cây gỗ là hung khí nguy hiểm, nhận thức đ ợc việc dùng cây gỗ đánh vào cơ thể ng ời khác là sẽ gây th ơng tích, là vi phạm pháp luật nh ng ị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra làm cho ị hại bị thiệt hại về sức khỏe với tỷ lệ th ơng tật tại thời điểm giám định là 12%; chứng tỏ việc phạm tội c a ị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử ị cáo Huỳnh Ngọc S về tội Cố ý gây th ơng tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 c a Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đ ng ng ời, đ ng tội. ét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội c a bị cáo gây ra. Bị cáo Huỳnh Ngọc S kháng cáo xin giảm nh hình phạt nh ng không cung cấp đ ợc tình tiết nào mới ngoài các tình tiết giảm nh mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho ị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nh hình phạt c a ị cáo, giữ nguyên phần quyết định c a ản án sơ thẩm về hình phạt đối với ị cáo Huỳnh Ngọc S.
[4] ét đề nghị c a vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo Huỳnh Ngọc S là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Do kháng cáo c a ị cáo Huỳnh Ngọc S không đ ợc chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự ph c thẩm theo luật định.
Các phần khác c a quyết định ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nh hình phạt cu a ị cáo Huỳnh Ngọc S. Giữ nguyên quyết định c a ản án hình sự sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Ngọc S.
2. Tuyên ố ị cáo Huỳnh Ngọc S phạm tội Cố ý gây th ơng tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 c a Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/4/2023.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Buộc ị cáo Huỳnh Ngọc S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự ph c thẩm.
4. Các phần khác c a quyết định ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án ph c thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ GĐKT 1); - VKSND Tỉnh; - Ban nội chính Tỉnh y; - Sở T pháp Tỉnh; - Cơ quan THAHS Công an Tỉnh; - TAND thành phố Cao Lãnh (02 ản); - VKSND thành phố Cao Lãnh; - Chi cục THADS thành phố Cao Lãnh; - Cơ quan CSĐT CA thành phố Cao Lãnh; - Cơ quan THAHS CA thành phố Cao Lãnh; - Trại tạm giam Công an Tỉnh; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh; - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh; - Bị cáo; - L u VT, HSVA, (Nhựt Minh). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |