- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Minh N tàng trữ ma túy k1 - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 197/2022/HS-ST Ngày 27- 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
ÔngVũ Tiến Thịnh;
Bà Nguyễn Thị Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế, Thư ký Tòa án.
- Đại diệnViện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên
tòa: Ông Lương Duy Hiển - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 179/2022/TLST-HS ngày 25/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 194/2022/QĐST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Bùi Minh N; Sinh ngày 07/7/1977 tại Thái Bình.
Nơi cư trú: thôn S, xã T, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông Bùi Minh D, ông Dậu được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba và bà Liêu Thị M, sinh năm 1946.
Vợ: Quách Thị O (đã li hôn năm 2013), có 01 con, sinh năm 2004.
Tiền án; tiền sự: Không
Nhân thân: Bản án số 58/2010/HSST ngày 01/12/2010 của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/9/2012, chấp hành xong án phí và bồi thường trách nhiệm dân sự ngày 15/02/2012.
Quyết định số 84/2017/QĐ - TA ngày 22/12/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 21/5/2019.
Bị can bị tạm giữ từ ngày 07/9/2022 đến ngày 10/9/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình.
- Người chứng kiến:
+ Anh Phạm Ngọc B, sinh năm 1976; cư trú tại thôn T, xã V, thành phố Thái Bình Vắng mặt.
+ Anh Dương Ngọc H, sinh năm 1985; cư trú tại số nhà 10, đường L tổ 05, phường B, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 07/9/2022, Bùi Minh N đi xe buýt từ nhà đến khu vực đường số 01, Khu đô thị Petro Thăng Long, tổ 06, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Tại đây, N gặp và mua của 01 người nam giới khoảng 25 tuổi, không biết tên và địa chỉ 200.000 đồng được 01 gói ma túy, loại hêrôin, bên ngoài gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng rồi cầm ở lòng bàn tay trái, đi bộ tìm chỗ để sử dụng.
Khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, khi N đi đến khu vực đường số 08, Khu đô thị Petro Thăng Long, tổ 08, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình phát hiện, yêu cầu kiểm tra., N đã tự giác đưa từ lòng bàn tay trái giao nộp cho tổ công tác 01 gói bên ngoài được gói bằng giấy tráng kim loại màu trắng, mở ra kiểm tra bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, N khai đó là ma túy, loại hêrôin của N mua về sử dụng cho bản thân. Kiểm tra người N thu tại túi quần bên phải 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, tiền Việt Nam 20.000 đồng, ngoài ra không phát hiện, thu giữ gì thêm.
Tại Bản Kết luận giám định số 354/KL - KTHS(MT) ngày 08/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định quản lý của Bùi Minh N là ma túy, loại Heroin (Hêrôin), có khối lượng 0,1294 gam (Không phẩy một nghìn hai trăm chín mươi tư gam).
Tại bản cáo trạng số 195/CT- VKSTPTB ngày 24 tháng 11 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Bùi Minh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Bùi Minh N thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyền bố bị cáo Bùi Minh N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 38, điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu của Bùi Minh N còn lại sau giám định, trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, tiền Việt Nam 20.000 đồng.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình đã truy tố và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra và truy tố cũng như tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hồi 11 giờ 15 phút ngày 07/9/2022 tại khu vực đường số 08, Khu đô thị Petro Thăng Long, tổ 08, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Bùi Minh N đã có hành vi tàng trữ 0,1294 gam Hêrôin để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến độc quyền quản lý các chất gây nghiện của nhà nước, làm lan tràn tệ nạn ma túy trong cộng đồng, gây nhiều tác động xấu đến xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vì mắc nghiện nên vẫn cố ý phạm tội. Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến và còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do vậy hành vi của Bùi Minh N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt từ 01 năm đến 05 năm
...
C, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”.
Như vậy Viện kiểm sát thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Bùi Minh N về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội,
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu nhưng không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo khai báo thành khẩn khai báo, có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự còn quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm" , xét bị cáo N không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Theo quy định tại Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Số ma túy tịch thu của Bùi Minh N lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, tiền Việt Nam 20.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo,
Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy Bùi Minh N khai mua của một người nam giới khoảng 25 tuổi, không quen biết tại khu vực đường số 01, Khu đô thị Petro Thăng Long, tổ 06, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự ; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106; Điều 136 Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Xử phạt bị cáo Bùi Minh N 01 (một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Minh N.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu của Bùi Minh N còn lại sau giám định, trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, tiền Việt Nam 20.000 đồng (Các vật chứng trên có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ngày 25/11/2022).
4. Về án phí: Bị cáo Bùi Minh N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Bùi Minh N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 27/12/2022.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND TP. Thái Bình; - VKSND tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS TP. Thái Bình; - Công an thành phố Thái Bình; - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình/Nhà tạm giữ CA thành phố Thái Bình;; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thu Hiền |