- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Văn Trương Đình K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 197/2022/HS-PT Ngày 26 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Nguyên
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân
Ông Lê Văn Duy
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Hồ Kim Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 178/2022/TLPT-HS ngày 07 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Văn Trương Đình K do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2022/HS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định.
- Bị cáo có kháng cáo:
Văn Trương Đình K, sinh ngày 03/5/2002 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Số 72E/5 đường T, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn Đình K, sinh năm: 1969 và bà Trương Ngọc A, sinh năm: 1970; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 12/11/2021, Văn Trương Đình K đi bộ từ nhà ra đầu hẻm 72 đường T, phường T, thành phố Q thì nhìn thấy xe mô tô hiệu AirBlade biển kiểm soát 81G1-253.XX của anh Vũ Duy Q không có người trông coi và trên xe có treo móc khóa remote điều khiển từ xa đang dựng ở đầu hẻm. Do cần tiền trả nợ nên K nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô nói trên. Sau đó, K lấy remote bấm mở khóa rồi điều khiển xe rời đi.
Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, anh Q phát hiện mất xe nên đến Công an phường T trình báo. Sau khi trộm được xe, K điều khiển xe đến quán café gần ngã tư Mai Xuân Thưởng – Trần Hưng Đạo rồi dùng facebook có tên là “D” vào trang “Mua bán xe máy cũ Q” để rao bán xe với nội dung “Bán xe AB không giấy tờ …”. Sau khi đăng tin thì có facebook tên “T” liên hệ K mua xe, K đồng ý và hẹn gặp nhau ở Nhà thờ Lòng Sông thuộc xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước để xem xe. K điều khiển xe mô tô trộm được đến nơi hẹn nhưng không thấy ai đến nên K nhắn tin cho facebook tên “T” và facebook tên “T” nhắn tin lại “Mày ăn cắp xe mà còn bán cho người khác, tao biết hết thông tin của mày và gia đình mày”. Khi biết việc mình lấy trộm xe đã bị phát hiện, K đem xe về đầu hẻm 72 đường T để trả lại cho anh Q. Anh Q đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Ngày 27/12/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q đã kết luận: Xe mô tô hiệu AirBlade biển kiểm soát 81G1-253.XX trị giá 35.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 117/2022/HS-ST ngày 24/5/2022, Tòa án nhân dân thành phố Q đã căn cứ vào khoản 1 Điều 173 và các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Văn Trương Đình K 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 06/6/2022, bị cáo Văn Trương Đình K kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo K vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nói trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Văn Trương Đình K, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt, xử phạt bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 08 giờ ngày 12/11/2021, tại khu vực đầu hẻm 72 đường T, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Q, Văn Trương Đình K đã có hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô hiệu AirBlade biển kiểm soát 81G1-253.XX của anh Vũ Duy Q. Khi biết sự việc mình lấy trộm xe đã bị phát hiện, K đem xe về đầu hẻm 72 đường T để trả lại cho anh Q. Anh Q đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Ngày 27/12/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q đã kết luận: Xe mô tô hiệu AirBlade biển kiểm soát 81G1-253.XX trị giá 35.000.000 đồng.
Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 117/2022/HS-ST ngày 24/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Q đã xét xử bị cáo Văn Trương Đình K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Văn Trương Đình K, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự nguyện khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Mặc dù bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhưng căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 06 tháng tù, mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp, có tác dụng răn đe và ngăn ngừa tội phạm.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Văn Trương Đình K, không chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
Về án phí: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Văn Trương Đình K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Văn Trương Đình K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Xử phạt bị cáo Văn Trương Đình K 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Văn Trương Đình K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1.TANDTC; - VKSND tỉnh Bình Định; - TA, VKS, CQĐT Công an TP.Q; - Cơ quan THAHS Công an TP.Q; - Chi cục THADS TP.Q; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định; - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Bình Định; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Bá Nguyên |