vanban.org

Bản án 197/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/05/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần HH VN.

1 Buộc ông Nguyễn Nam H phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần HH VN số tiền tính đến ngày 20/5/2022 là 236.983.432 (Hai trăm ba mươi sáu triệu chín trăm tám mươi ba nghìn bốn trăm ba mươi hai) đồng, trong đó tiền gốc:114.333.337 đồng, tiền lãi trong hạn: 100.325.851 đồng và lãi quá hạn: 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NH TMCP HÀNG HẢI VIỆT NAM"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần HH VN.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:197 /2022/ DS-ST
Ngày: 20/5 /2022
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Giàu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đặng Thị Huê

2. Bà Thái Thục Hiền

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Hoàng Thị Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 109/2021/TLST- DS ngày 11 tháng 5 năm 2021, về việc:“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2022/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 2 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2022/QĐST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần HH VN

Địa chỉ: Tầng 23, tòa nhà TNR số 180-192 N C T, Phường NTB, Quận 1, Thành phố

Hồ Chí Minh.

Đại diện theo uỷ quyền: Ông Võ Minh T, sinh năm 1983 giấy ủy quyền số 2735/2022/GUQ-TGĐ 12 ngày 27/4/2022 của Ngân hàng TMCP HH VN. (có đơn vắng mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Nam H, sinh năm 1977. (vắng mặt)

Địa chỉ: 23 ĐH, Phường I, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và đại diện nguyên đơn trình bày: Ngân hàng Thương mại cổ phần HH VN (gọi tắt là Ngân hàng HH VN) và ông H có ký hợp đồng vay số 2609/2017/HĐCV và khế ước nhận nợ lần 1 ngày 26/01/2017 có nội dung như sau: số tiền vay 140.000.000 đồng, mục đích vay: tiêu dùng cá nhân và gia đình, thời hạn vay là 60 tháng, lãi suất cho vay: 23%/năm, lãi suất quá hạn: 150%/ lãi suất trong hạn, phương thức trả nợ: hàng tháng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên ngân đã chuyển toàn bộ số nợ sang nợ quá hạn, áp dụng lãi suất nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn.

Tính đến ngày 20/5/2022 ông H còn nợ số tiền: 236.983.432 đồng, trong đó tiền gốc:114.333.337 đồng, tiền lãi trong hạn: 100.325.851 đồng và lãi quá hạn: 22.324.244 đồng. Nay Ngân hàng HH VN yêu cầu ông H thanh toán số tiền tính đến 20/5/2022 là 236.983.432 đồng, trong đó tiền gốc:114.333.337 đồng, tiền lãi trong hạn: 100.325.851 đồng, lãi quá hạn: 22.324.244 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 21/5/2022 cho đến ngày bị đơn trả xong nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa nên Tòa án không thu được lời khai và không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến: Tòa án nhân dân Quận 8 thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, đúng quy định pháp luật. Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ pháp luật không vi phạm Tố tụng. Yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần HH VN là có căn cứ theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng HH VN thì đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, bị đơn cư trú tại Quận 8 nên theo qui định của các Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án nhân dân Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành giải quyết vụ án theo quy định tại điểm e, khoản 1, Điều 192 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, do ông Nguyễn Nam H thay đổi địa chỉ nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện.

Ông Nguyễn Nam H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt ông Nguyễn Nam H và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn.

Ngân hàng HH VN và ông Nguyễn Nam H có thỏa thuận về hợp đồng vay số 2609/2017/HĐCV và khế ước nhận nợ lần 1 ngày 26/01/2017. Ông H có trách nhiệm trả số tiền vay và lãi từng kỳ theo thỏa thuận của hợp đồng. Đây là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và có lãi. Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì Tổ chức tín dụng và bên vay có quyền thỏa thuận về lãi suất vay nên hợp đồng vay giữa Ngân hàng HH VNvà ông Nguyễn Nam H đúng qui định của pháp luật. Nghĩa vụ của bên vay phải trả đủ tiền khi đến hạn nhưng ông H không thanh toán nợ. Tính đến ngày 20/5/2022 ông H còn nợ số tiền: 236.983.432 đồng. Ông Nguyễn Nam H đã được thông báo thụ lý vụ án nhưng không có ý kiến phản hồi chứng tỏ có việc vay nợ giữa ông và Ngân hàng HH VN. Ông H đã được triệu tập đúng qui định nhưng cố ý vắng mặt khi Tòa án triệu tập xem như Ông H đã tự mình từ chối thực hiện các quyền lợi hợp pháp, Ông H phải gánh chịu mọi hậu quả pháp lý do việc vắng mặt của mình. Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc Ngân hàng HH VN yêu cầu Ông H phải trả toàn bộ số tiền còn nợ cùng với tiền lãi theo hợp đồng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại án lệ số 08/2016/AL qui định: “Đối với các khoản tiền vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”. Như vậy ông Nguyễn Nam H phải tiếp tục trả tiền lãi tính kể từ ngày 21/5/2022 cho Ngân hàng HH VNtrên số nợ gốc theo lãi suất nợ quá hạn tại hợp đồng tín dụng.

Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Nguyên đơn không phải chịu án phí và được hoàn lại tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL công bố ngày 17/10/2016;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần HH VN.

1.1 Buộc ông Nguyễn Nam H phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần HH VN số tiền tính đến ngày 20/5/2022 là 236.983.432 (Hai trăm ba mươi sáu triệu chín trăm tám mươi ba nghìn bốn trăm ba mươi hai) đồng, trong đó tiền gốc:114.333.337 đồng, tiền lãi trong hạn: 100.325.851 đồng và lãi quá hạn: 22.324.244 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

1.2 Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm Ông H còn phải trả số tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thương mại cổ phần HH VN thì lãi suất mà Ông H phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với lãi suất của Ngân hàng thương mại cổ phần HH VN.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm là 11.849.171 đồng

2.1 Ông Nguyễn Nam H phải chịu số tiền là 11.849.171 (mười một triệu tám trăm bốn mươi chín nghìn một trăm bảy mươi mốt) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

2.2 Ngân hàng Thương mại cổ phần HH VN không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.098.579 (bốn triệu không trăm chín mươi tám nghìn năm trăm bảy mươi chín) đồng theo biên lai thu tiền số 0046323 ngày 07/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Cỡ chữ