vanban.org

Bản án 197/2021/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 30/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T. phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T. 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ ngày 05 tháng 6 năm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T. phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn T. phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
________________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 197/2021/HSST
Ngày: 30/9/2021
Về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Hùng

Các hội thẩm nhân dân :

Ông Đặng Thế Vinh

Bà Nguyễn Thị Thiên Thuận

- Thư ký phiên tòa :

Bà Đỗ Ngọc Thùy - Thư ký.

- Đại diện VKSND quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa :

Bà Phan Thị Hạnh Ngân - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại Toà án nhân dân Quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 214/2021/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/QĐXX-HSST ngày 16 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo họ và tên: Lê Văn T. - Sinh năm: 2000; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn K., xã M., huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Họ tên cha: Lê Thế Th1. - Sinh năm: 1973 và Họ tên mẹ: Đỗ Thị Th2.

- Sinh năm: 1973; Theo danh chỉ bản số 327 ngày 10 tháng 6 năm 2021do công an Quận Hoàn Kiếm lập thì Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 05 tháng 6 năm 2021, thay đổi biện pháp ngăn chặn, hủy bỏ tạm giữ bằng hình thức cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 14 tháng 6 năm 2021 - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

1/ Chị Ngô Hà M. - Sinh năm: 2000; HKTT: Số 51 ngõ 481 Ng., phường Ng., quận Long Biên, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

2/ Chị Ngô Thủy T. - Sinh năm: 1992, Nơi ở: số 15 ngõ 366/68 Ng., phường Ng., quận Long Biên, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

3/ Chị Nguyễn Phương U. - Sinh năm: 2000, Nơi ở: số 78 ngõ 154 Ng., phường Ng., quận Long Biên, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

4/ Chị Phạm Thanh Th3. - Sinh năm: 1999, Nơi ở: số 2/133/20 phố K., quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 00 phút ngày 04/6/2021, chị Ngô Hà M. (Sinh năm: 2000; HKTT: Số 51 ngõ 481 Ng., phường Ng., quận Long Biên, Hà Nội) đến trụ sở công an phường Hàng Bông trình báo sự việc bị lừa đảo chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại Iphone X 64Gb màu trắng tại số 38 Phùng Hưng, phường Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội vào ngày 23/5/2021.

Khi trình báo, chị Ngô Hà M. giao nộp: 01 bản sao kê tài khoản ngân hàng mang tên Ngo Ha My của Ngân hàng Á Châu - Chi nhánh Long Biên.

Quá trình điều tra xác định:

Chị Ngô Hà M. và Lê Văn T. có mối quan hệ tình cảm với nhau, do thiếu tiền chi tiêu nên ngày 23/5/2021, Lê Văn T. nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại Iphone X 64GB màu trắng của chị M. để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 18 giờ cùng ngày, T. điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng mang BKS: 29K1 - 531.14 (đã mượn trước đó của chị M.) đến gặp chị M. tại của hàng bánh Anh Hòa, địa chỉ: 38 Phùng Hưng, phường Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. T. lấy lý do mượn điện thoại để sử dụng đăng nhập vào ứng dụng shipper AHA MOVE, ngay sau khi đã lấy được chiếc điện thoại, T. đã mang thẳng đến cửa hàng điện thoại WM. (Địa chỉ: 132 Phố T1., phường Ng2., quận Đống Đa, Hà Nội) để bán. Tại đây, T. đã vào phần “Icloud” của máy để đăng xuất tài khoản Icloud của chị M. rồi bán cho cửa hàng với giá 5.000.000 đồng, T. đã sử dụng hết số tiền trên vào mục đích cá nhân. Sau khi hết tiền, T. tiếp tục nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của những người bạn chị M.. Do quen biết với chị M. trong thời gian dài, T. biết được các thông tin của chị M. bao gồm tên đăng nhập, mật khẩu của các ứng dụng: tài khoản Zalo, Facebook và tài khoản Ngân hàng ACB. T. đã sử dụng điện thoại Iphone 5S của cá nhân đăng nhập vào tài khoản Zalo của chị M. và nhắn tin cho tài khoản Zalo: “Thủy T.” (chị gái của chị M. - tên thật là Ngô Thủy T. - Sinh năm: 1992, Nơi ở: số 15 ngõ 366/68 Ng., phường Ng., quận Long Biên, Hà Nội). T. nhờ chị T. chuyển tiền hộ, chị T. tin tưởng là chị M. nhờ nên đã chuyển 02 lần với tổng số tiền là 2.500.000 đồng (Lần 1: 1.000.000 đồng và Lần 2: 1.500.000 đồng) vào tài khoản số: 3325427 mang tên Ngô Hà M. tại Ngân hàng ACB. Sau đó, T. đã đăng nhập vào tài khoản Ngân hàng của chị M. trên ứng dụng điện thoại rồi nạp tiền vào trò chơi đánh bài trên mạng Internet. Sau khi thua hết số tiền đã nạp vào trò chơi đánh bài, T. tiếp tục đăng nhập vào tài khoản mạng xã hội Messenger của chị M. và nhắn tin cho tài khoản “Phương U.” (cháu họ của chị M. - tên thật là Nguyễn Phương U. - Sinh năm: 2000, Nơi ở: số 78 ngõ 154 Ng., phường Ng., quận Long Biên, Hà Nội) để nhờ chuyển số tiền 800.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng ACB của chị M.. Tin tưởng là chị M. vay tiền thật nên chị U. đã chuyển 800.000 đồng vào tài khoản trên. Bằng thủ đoạn như trên, T. tiếp tục nhắn tin với tài khoản Facebook Messenger có tên “Thanh Th3.” (đồng nghiệp của chị M. - tên thật là Phạm Thanh Th3. - Sinh năm: 1999, Nơi ở: số 2/133/20 phố K., quận Đống Đa, Hà Nội) để lừa chị Th3. chuyển 400.000 đồng vào tài khoản của chị M. tại Ngân hàng ACB. Sau đó, T. đã dùng hết số tiền đã chiếm đoạt được để nạp vào trò chơi đánh bạc qua mạng Internet. Ngày 25/5/2021, chị M. đến nhà tìm gặp T. tại thôn K., xã M., huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa thì T. trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng BKS: 29K1 - 531.14 cho chị M., còn chiếc điện thoại T. nói đã bán cho cửa hàng trên phố Tây Sơn. T. hẹn đến ngày 03/6/2021 sẽ trả lại điện thoại và tiền cho chị M.. Đến ngày 04/6/2021, chị M. không liên lạc được với T..

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 139/KL-HĐĐGTS ngày 12/6/2021 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàn Kiếm kết luận: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE X - 64GB màu trắng (đã qua sử dụng) trị giá: 6.200.000 đồng (Sáu triệu hai trăm ngàn đồng) (BL: 73).

Ngày 05/6/2021, Cơ quan CSĐT - Công an quận Hoàn Kiếm ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Văn T. về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn T. khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. (BL: 79-100)

Thu giữ của Lê Văn T.: 01 điện thoại di động Iphone 5S Gold, Imei: 356962065516644, sim số: xxxxxxxxxx. (BL: 37)

Chị Ngô Hà M., chị Ngô Thủy T., chị Nguyễn Phương U., chị Phạm Thanh Th3. trình bày phù hợp với lời khai nhận của Lê Văn T.. (BL: 101-108, 110-114, 116-120, 121-127).

Về dân sự, chị Ngô Hà M. đã được gia đình Lê Văn T. bồi thường số tiền tương ứng với giá trị của chiếc điện thoại mà Lê Văn T. đã chiếm đoạt, chị Ngô Thủy T., chị Nguyễn Phương U., chị Phạm Thanh Th3. đã nhận lại toàn bộ số tiền mà T. đã chiếm đoạt. Chị M., chị T., chị U., chị Th3. đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.

Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải Lê Văn T. đến cửa hàng điện thoại WM. (Địa chỉ: 132 Phố T1., phường Ng2., quận Đống Đa, Hà Nội). T. xác định đã bán chiếc điện thoại trên cho anh Đinh Văn Ch. (Sinh năm: 1994, Nơi ở: số 98/43/110 phố Tr., quận Cầu Giấy, Hà Nội) là chủ cửa hàng. Tuy nhiên, anh Ch. đã bán chiếc điện thoại trên cho người khác nên cơ quan điều tra không thu giữ được chiếc điện thoại trên. Quá trình mua bán điện thoại của T., anh Ch. không biết chiếc điện thoại là tài sản Lê Văn T. đã chiếm đoạt được nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh Đinh Văn Ch.. Anh Đinh Văn Ch. không có yêu cầu gì khác nên không được xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Bản cáo trạng số 201/CT-VKS ngày 20/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố Lê Văn T. phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND quận Hoàn Kiếm giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b,i khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Văn T. từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: không.

Tịch thu sung công quỹ chiếc điện thoại Iphone 5S Gold, Imei trong máy: 356962065516644. Số Imei trên vỏ máy 358757052955427.

Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Bị hại có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xác định có tội, ăn năn hối cải xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, qua xét hỏi và tranh luận bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai bị hại, nhân chứng, phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 23/5/2021, Lê Văn T. bằng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt của chị Ngô Hà M. 01 chiếc điện thoại Iphone X 64Gb màu trắng có giá trị là 6.200.000 đồng tại số 38 Phùng Hưng, phường Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ngoài ra, Lê Văn T. còn sử dụng các tài khoản mạng xã hội Facebook, Zalo của chị Ngô Hà M. để lừa đảo chiếm đoạt của chị Ngô Thủy T. 2.500.000 đồng, chị Nguyễn Phương U. 800.000 đồng, chị Phạm Thanh Th3. 400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Lê Văn T. đã lừa đảo chiếm đoạt là 9.900.000 đồng. Như vậy, đã đủ cơ sở để khẳng định Lê Văn T. phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội danh và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì tham lam tư lợi nên bị cáo đã chiếm đoạt số tiền của các bị hại, làm mất trật tự trị an xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử có xem xét đến trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, bị cáo lần đầu bị xét xử, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm b,i khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần, là tình tiết tăng nặng theo qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Với những phân tích trên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì khác nên không xét.

Về tang vật của vụ án: Tịch thu sung công quỹ chiếc điện thoại Iphone 5S Gold, Imei trong máy: 356962065516644. Số Imei trên vỏ máy 358757052955427.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Lê Văn T. phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.

- Áp dụng Điều 106; Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Nghị quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T. 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ ngày 05 tháng 6 năm 2021 đến ngày 14 tháng 6 năm 2021.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Không xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ chiếc điện thoại Iphone 5S Gold, Imei trong máy: 356962065516644. Số Imei trên vỏ máy 358757052955427. Điện thoại đã qua sử dụng, cũ, tại thời điểm bàn giao điện thoại tắt nguồn, không khởi động được,không rõ chất lượng, hiện trạng bên trong, không kiểm tra được, đối chiếu được số Imei trong máy. Hiện đang lưu giữ tại chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên bản giao vật chứng ngày 28/9/2021.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại (vắng mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ