vanban.org

Bản án 197/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cù Huy Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cù Huy Th 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 29/9/2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cù Huy Th (Điều 173) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 197/2020/HS-ST
Ngày: 29-9-2020

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Lê.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Thảo;

2. Ông Bùi Duy Hải.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thuyến - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Tấn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 188/2020/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2020 về tội “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Cù Huy Th, sinh năm 1993 tại Hà Tĩnh; thường trú: Thôn S, xã L, huyện H, tỉnh HT; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cù Huy Kh, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1969; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2020 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Bùi Chí Th1, sinh năm 1998; thường trú: Tổ 4, ấp S, xã M, huyện U, tỉnh BD; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Cù Huy T, sinh năm 1986; thường trú: Tổ 14, khu phố L, phường Đ, thị xã C, tỉnh B D; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1987; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Cù Huy Th và đối tượng Cù Huy A, sinh năm 1996; thường trú: Thôn S, xã L, huyện H, tỉnh H T; tạm trú: Phòng số 3, nhà trọ 99, đường NG3, Khu phố 8, phường H, thị xã C, tỉnh BD là bạn với nhau.

Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 12/6/2020, bị cáo Thgặp Cù Huy A tại đường NE3 thuộc Khu công nghiệp Mỹ Phước 3, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Cù Huy A đề xuất việc trộm cắp xe máy tại các khu nhà trọ thì bị cáo Thđồng ý. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 13/6/2020, Cù Huy A gọi điện hẹn bị cáo Th đón A. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo Th điều khiển xe mô tô biển số 61G1-748.43 đến khu vực đường NE3, thuộc Khu công nghiệp Mỹ Phước 3, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đón A. Sau đó, bị cáo Th điều khiển xe mô tô 61G1-748.43 chở A đến địa bàn phường Vĩnh Tân, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, Cù Huy A nhìn thấy xe mô tô biển số 61N1-143.06 của ông Bùi Chí Th1 đang dựng tại lối đi chung của khu nhà trọ Nguyễn Văn Th2 thuộc Khu phố 1, phường Vĩnh Tân, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thì Cù Huy A nói bị cáo Thdừng xe. Sau đó, Cù Huy A đi bộ vào trong khu nhà trọ và dắt chiếc xe mô tô biển số 61N1-143.06 ra khỏi cổng khu nhà trọ. Khi ông Bùi Chí Th1 phát hiện và tri hô thì Cù Huy A bỏ lại xe mô tô biển số 61N1-143.06 và leo lên xe mô tô biển số 61G1-748.43. Tuy nhiên, xe không nổ máy được nên Cù Huy A chạy bộ trốn thoát còn bị cáo Th bị ông Bùi Chí Th1 và ông Hoàng Văn Cg bắt giữ giao cho Công an phường Vĩnh Tân.

Quá trình làm việc, bị cáo Th khai nhận hành vi cùng với Cù Huy A thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô biển số 61N1-143.06. Công an phường Vĩnh Tân lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Cù Huy Th và thu giữ vật chứng gồm: 01 xe mô tô biển số 61N1-143.06; 01 xe mô tô biển số 61G1-748.43; 01 chìa khóa bằng kim loại tay cầm có bọc nhựa màu đen, có số Y1080; 01 chìa khóa bằng kim loại số P962 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280, màu đen. Công an phường Vĩnh Tân đã chuyển hồ sơ và vật chứng đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản số 237/KLTS-TTHS ngày 18/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Tân Uyên kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Raider, màu đen-trắng, biển số: 61N1-143.06, số máy: CGA1504837, số khung: 11AV104704, đã qua sử dụng trị giá 33.000.000 đồng.

Cáo trạng số 191/CT-VKSTU ngày 28 tháng 8 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo Cù Huy Th về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội dA: Tuyên bố bị cáo Cù Huy Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i và s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Cù Huy Th từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Bùi Chí Th1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường. Do đó, không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

+ Tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu đen, số Imei 355862/01/550511/2.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 chìa khóa xe màu đen, có ký hiệu Y1080 và 01 chìa khóa xe màu đen, có dòng chữ Honda và ký hiệu P962.

Bị hại ông Bùi Chí Th1 trình bày: Ông Th1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Raider, màu đen-trắng, biển số: 61N1-143.06. Do đó, ông Th1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Cù Huy T trình bày: Ông T là anh ruột của bị cáo Cù Huy Th. Ông T là chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu trắng – đỏ, biển số: 61G1-748.43. Ngày 13/6/2020, ông T cho bị cáo Cù Huy Th mượn làm phương tiện đi lại. Ông T không biết bị cáo Th sử dụng xe vào việc phạm tội. Ngày 09/8/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên đã trả lại xe cho ông T.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Thđã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bị cáo là đúng thẩm quyền.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là đúng thẩm quyền và đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội dA và khung hình phạt: Lời khai của bị cáo Cù Huy Th tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 13/6/2020, tại khu nhà trọ Nguyễn Văn Th2 thuộc Khu phố 1, phường Vĩnh Tân, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, bị cáo Cù Huy Th và đối tượng Cù Huy A đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của bị hại ông Bùi Chí Th1 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Raider, màu đen-trắng, biển số: 61N1-143.06, số máy: CGA1504837, số khung: 11AV104704 trị giá 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì động cơ tư lợi và thái độ coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo Cù Huy Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, nội dung Cáo trạng số 191/CT-VKSTU ngày 28/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Cù Huy Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về vai trò của bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm giản đơn, trong đó đối tượng Cù Huy A có vai trò đề xuất và thực hành tích cực; bị cáo Cù Huy Th phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Cù Huy Th phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên thuộc trường hợp phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i và s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Căn cứ quyết định hình phạt: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nhân Thtốt và nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo được hưởng án treo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46 và 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Đối với các vật chứng gồm: 01 chìa khóa xe màu đen, có ký hiệu Y1080 và 01 chìa khóa xe màu đen, có dòng chữ Honda và có ký hiệu P962 đều là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu đen là công cụ, phương tiện phạm tội và còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Suzuki, loại Raider, màu đen-trắng, biển số: 61N1-143.06 thuộc sở hữu của bị hại Bùi Chí Th1, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên đã trả lại cho bị hại, Hội đồng xét xử thấy phù hợp pháp luật.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu trắng – đỏ, biển số: 61G1-748.43 thuộc sở hữu của ông Cù Huy T. Ngày 13/6/2020, ông T cho bị cáo Cù Huy Th mượn để làm phương tiện đi lại. Ông T không có lỗi khi bị cáo Thsử dụng chiếc xe vào việc phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên trả lại xe cho ông T là phù hợp pháp luật.

Về kiến nghị: Đối tượng Cù Huy A có hành vi đồng phạm với bị cáo Cù Huy Th. Do đó, cần kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiếp tục điều tra xác minh xử lý đối với Cù Huy A theo quy định của pháp luật.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các điều 106, 135, 136, 268, 269, 298, 299, 331, 328 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Khoản 1 Điều 173; các điểm h, i và s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; các điều 46 và 47 của Bộ luật hình sự;

- Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

- Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cù Huy Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cù Huy Th 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 29/9/2020).

Trả tự do cho bị cáo Cù Huy Th ngay tại phiên tòa nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Cù Huy Th cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh HT giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, màu đen, số Imei 355862/01/550511/2.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 chìa khóa xe màu đen, có ký hiệu Y1080 và 01 chìa khóa xe màu đen, có dòng chữ Honda và có ký hiệu P962.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/9/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).

4. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Cù Huy Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ