vanban.org

Bản án 197/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm “Tội cố ý gây thương tích”.

Về điều luật áp dụng và phạt: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12-4-2020. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu Đ - " Tội cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm “Tội cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH TÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 197/2020/HS-ST
Ngày 18-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Ái;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Tố Nữ và ông Lê Văn Khanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Tiền Quí Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Minh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2020, tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 219/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 263/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu Đ (tên gọi khác: X), sinh năm 2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số 544/70, đường L L Q, Phường L, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh (đã bán nhà đi khỏi địa phương từ tháng 10/2010); nơi ở: Không ổn định; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu C và bà Bùi Thị Thu T; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt tạm giam ngày 12-4-2020 “có mặt”.

Bị hại: Anh Cao Trần Anh N, sinh năm 2000. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Nhà số 96, ấp A N, xã Đ A, huyện L V, tỉnh Đ T (hiện nay đang cai nghiện ma túy bắt buộc tại Trung tâm Cai nghiện ma túy Số 2) “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 03/10/2019, Nguyễn Hữu Đ, anh Đoàn Hoài T, tên M và T (đều không rõ lai lịch) đang ngồi uống nước tại quán nước vỉa hè trước Nhà sách Nguyễn Văn C, số 1326, đường T L , phường T T, quận B T thì tên Mrủ Đ gọi điện thoại cho anh Cao Trần Anh N đến để tên Minh đòi nợ 3.600.000 đồng cùng với 100.000 đồng hùn trả tiền thuê khách sạn và mua ma túy sử dụng chung trước đó, nếu anh N không chịu trả thì cả 02 sẽ đánh anh N và sau khi Đ đồng ý, tên M gọi điện thoại kêu anh N ra. Lúc khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, anh N đến và ngồi vào uống nước bên cạnh, tên M đòi tiền anh N nhưng anh N không chịu trả thì liền bị tên M dùng nón bảo hiểm đánh 02 cái trúng vào mặt anh N, anh N dùng tay đánh lại vào mặt tên M. Thấy vậy, Đ dùng con dao xếp bằng kim loại, cán màu đen, lưỡi màu trắng sáng dài khoảng 08cm, mũi nhọn đâm 01 nhát trúng vào vùng lưng bên phải của anh N gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 35%. Khi đó, anh N bỏ chạy và được bạn đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy, còn Đ và tên M tuy có chạy đuổi theo anh N nhưng do không kịp nên đi về và vứt bỏ con dao xuống kênh. Qua trình báo, Công an phường Tân Tạo đã lập hồ sơ ban đầu rồi chuyển Cơ quan điều tra giải quyết theo thẩm quyền và tại đây Đ khai nhận toàn bộ hành vi như vừa đã nêu.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Hữu Đ đã khai nhận, do anh Cao Trần Anh N có nợ tên Minh (không rõ lai lịch) số tiền 3.600.000 đồng cùng với tiền hùn thuê khách sạn và mua ma túy sử dụng chung trước đó là 100.000 đồng nên khi tên M có rủ bị cáo gọi anh N đến quán nước để đòi số tiền này, nếu như anh N không chịu trả thì cả 02 sẽ đánh anh N. Ngay sau khi bị cáo đồng ý, tên M liền gọi điện thoại kêu anh N ra. Đến lúc anh N ra ngồi uống nước bên cạnh, tên M có đòi anh N trả tiền nhưng anh N không chịu trả nên tên M dùng nón bảo hiểm đánh vào mặt anh N 02 cái, do tên Minh bị anh N đánh trả lại nên bị cáo dùng con dao xếp bằng kim loại, cán màu đen, lưỡi màu trắng sáng dài khoảng 08cm, mũi nhọn đâm 01 nhát trúng vào vùng lưng bên phải của anh N gây ra thương tích cho anh N và sau đó bị cáo đã vứt bỏ con dao xuống kênh. Đối với tên M, tuy có dùng nón bảo hiểm đánh vào mặt anh N trước nhưng bị cáo thấy anh N không bị thương tích gì; còn anh Đoàn Hoài T và tên T thì không được tên M rủ đánh anh N, đồng thời cũng không có tự ý tham gia đánh anh N nên nay bị cáo thừa nhận chính bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội gây ra thương tích 35% cho anh N đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về trách nhiệm dân sự, do gia đình bị cáo đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong cho anh N số tiền 22.000.000 đồng nên không có ý kiến.

Bản cáo trạng số 228/CT-VKS ngày 03 tháng 9 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Đ ra trước Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh để xét xử về “Tội cố ý gây thương tích”, theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã nêu: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ đã có hành vi “Dùng hung khí nguy hiểm” gây ra thương tích cho anh Cao Trần Anh N với tỷ lệ tổn thương cơ thể 35% và “Có tính chất côn đồ” là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải áp dụng mức án thật nghiêm đối với bị cáo thì mới có đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại để khắc phục hậu quả; có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu và được bị hại bãi nại xin giảm nhẹ mức hình phạt, nghĩ nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do đó, giữ N quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo với mức án từ 06 năm đến 07 năm tù về “Tội cố ý gây thương tích”. Về trách nhiệm dân sự, do giữa gia đình bị cáo và bị hại đã tự thỏa thuận giải quyết xong, còn về vật chứng thì không thu hồi được nên không có ý kiến.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm về hành vi đã bị truy tố, còn lời nói sau cùng thì xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra – Công an quận Bình Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Theo các tài liệu chứng có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo Nguyễn Hữu Đ tại phiên tòa hôm nay, xét thấy vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 03/10/2019, bị cáo đã có hành vi làm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho anh Cao Trần Anh N tại trước Nhà sách Nguyễn Văn C số 1326, đường T L, phường T T, quận B T.

Theo Bản kết luận Giám định Pháp y về thương tích số 978/TgT.19 ngày 08/11/2019 của Trung tâm Pháp Y, thuộc Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận mức độ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho anh Cao Trần Anh N như sau:

- Vết thương tại vùng lưng dưới bả vai phải gây thủng đứt da, thủng phổi tại hạ phân thùy 6, tràn máu tràn khí màng phổi, đứt động mạch liên sườn đã được điều trị mổ nội soi, đốt cầm máu, cắt phần nhu mô phổi bị tổn thương, đặt dẫn lưu, hiện còn:

+ Một sẹo đâm phẳng kích thước 1x(0,2-0,3)cm.

+ Ba sẹo mổ phẳng kích thước 1,5x(0,1-0,2)cm, mỗi sẹo tại mạn sườn phải.

+ Một sẹo dẫn lưu còn mày kích thước 2,1x1,5cm tại mạn sườn phải.

+ Hình ảnh xơ phổi trên phim chụp cắt lớp vi tính.

Có tỷ lệ 35%.

Thương tích do vật sắc nhọn tác động gây ra, gây nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

- Chấn thương bụng đã được điều trị, hiện không còn dấu vết thương tích, tình trạng ổn định.

Có tỷ lệ 00%.

Không đủ cơ sở xác định hung khí.

Chấn thương không gây nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 35% ( ba mươi lăm phần trăm).

Trong vụ án này, bị cáo đã có hành vi sử dụng con dao xếp bằng kim loại, cán màu đen, lưỡi màu trắng sáng dài khoảng 08cm, mũi nhọn là vật cứng, chắc, sắc và nhọn nên được coi là “Dùng hung khí nguy hiểm” đâm 01 nhát trúng vào vùng lưng bên phải của anh Cao Trần Anh N với tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 35%; đồng thời, nếu có mâu thuẫn trong việc đòi nợ thì chỉ xảy ra giữa tên M với anh N, đằng này bị cáo không liên quan gì đến mà lại trực tiếp gây ra thương tích cho anh N là “Có tính chất côn đồ” (thuộc trường hợp quy định tại các điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015). Do đó, bị cáo Nguyễn Hữu Đ đã phạm “Tội cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa hôm nay phù hợp với lời khai trước đây tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng; biên bản, bản ảnh thực nghiệm điều tra, kết luận giám định thương tích, cơ chế hình thành vết thương của bị hại….Do đó, đã đủ chứng cứ buộc tội bị cáo và lời đề nghị của Kiểm sát viên vừa nêu trên là có cơ sở chấp nhận. Còn đối với tên Minh, tuy là người khơi xướng, rủ rê bị cáo đánh bị hại nhưng do không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra còn đang tiếp tục truy xét cho đến khi nào phát hiện được sẽ xử lý sau. Riêng anh Đoàn Hoài T và tên T (không rõ lai lịch), tuy lúc xảy ra sự việc có mặt tại hiện trường nhưng do tên Minh không có rủ 02 người này đánh anh N và thực tế cũng không có tự ý tham gia đánh anh N nên không phải đồng phạm với bị cáo là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện là hết sức nguy hiểm cho xã hội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này bằng một mức án nghiêm khắc. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại để khắc phục hậu quả; có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu và được bị hại bãi nại xin giảm nhẹ mức hình phạt nên cần được xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Tuy tại Tòa hôm nay, bị hại anh Cao Trần Anh N đã được triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt nhưng theo các tài liệu có trong hồ sơ thì, giữa gia đình bị cáo với anh N đã tự nguyện thỏa thuận giải quyết bồi thường thiệt hại xong số tiền 22.000.000 đồng và không còn yêu cầu gì thêm nên không xét.

Về vật chứng: con dao xếp bằng kim loại, cán màu đen, lưỡi màu trắng sáng dài khoảng 08cm, mũi nhọn mà bị cáo sử dụng gây thương tích cho bị hại, do bị cáo vứt bỏ xuống kênh và không thu hồi được nên không xét.

Bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm “Tội cố ý gây thương tích”.

- Về điều luật áp dụng và phạt: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12-4-2020.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Cao Trần Anh N vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ