- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương... — án lao động — "Ng Th Th Nh - Công ty Cổ phần Hơi Kỹ Nghệ Que H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Sửa một phần bản án sơ thẩm
- Căn cứ chính? Điều 111 Bộ luật Lao động; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 197/2019/LĐ-PT Ngày: 20/3/2019 Về việc: “Đòi"tiền"lương”" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm"phán"–"Chủ"tọa"phiên"tòa:"
Bà Lê Thị Thúy Hoa
Các"Thẩm"phán:"
Ông Đỗ Giang.
Bà Võ Thị Sang. "
-"Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Dự - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 3 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 72/2018/TLPT-LĐ ngày 18 tháng 12 năm 2018 về việc: “Đòi tiền lương”.
Do bản án lao động sơ thẩm số 10/2018/LĐ – ST ngày 09 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1230/2019/QĐ-PT ngày 19/3/2019 giữa các đương sự:
Nguyên"đơn: Bà Ng Th Th Nh.
Địa chỉ: 152/11M đường Đ B Ph Phường N, quận B Th, Thành phố H.
Bị"đơn: Công ty Cổ phần Hơi Kỹ Nghệ Que H.
Trụ sở chính: Số 1-3 đường Ng Tr T, Phường L, Quận Y, Thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tr A Ph.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà L L Ch.
(Theo giấy ủy quyền ngày 18/3/2019)
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Ng Th Th Nh.
Bà Ng Th Th Nh, bà L L Ch có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12/6/2018 và tại các bản tự khai nguyên đơn bà Ng Th Th Nh trình bày:
Ngày 01/4/2007, bà Ng Th Th Nh ký hợp đồng với Công ty Cổ phần H K Ng Q H hợp đồng số 86/KH, loại hợp đồng không xác định thời hạn với chức danh Phó phòng Kinh Doanh. Ngày 25/02/2017, Công ty Cổ phần H K Ng Q H có công văn số 81/S-TCNS v/v CB.CNV nghỉ hưu trí. Theo công văn này, bà Nh được nghỉ nghơi từ ngày 01/4/2017 đến hết ngày 30/6/2017 hưởng nguyên lương theo quy định. Ngày 06/6/2017, Công ty ra quyết định số 126/QĐ-TCNS về việc nghỉ hưởng chế độ hưu trí từ ngày 01/7/2017. Bà Ng Th Th Nh và Công ty xảy ra tranh chấp trước tháng 4/2011, Công ty trả cho cán bộ, công nhân viên theo thang bảng lương được hướng dẫn tại Nghị định số 205/2004/NĐ-CP.
Tháng 4/2011, Công ty xây dựng quy chế trả lương nội bộ và có quyết định số 156/QĐ-CTY ngày 08/4/2011 ban hanh quy chế trả lương, căn cứ trên thang bảng lương do Nhà nước quy định là Nghị định số 205/2004/NĐ-CP theo quy định bậc Đại học của Nhà nước có 08 bậc nhưng Công ty Cổ phần H K Ng Q H chuyển đổi thành 04 bậc. Tại thời điểm này , mức lương của bà đang là 7/8 – Chức danh: Phó phòng Kinh doanh – dịch vụ Công ty thuộc doanh nghiệp hạng 1, phụ cấp trách nhiệm: 0,4. Theo quy định thì lương của bà phải là bậc 4/4, hệ số chia lương nội bộ là 7,09. Tuy nhiên, Công ty chỉ xếp cho bà bậc ¾, hệ số chia lương nội bộ là 6,24. Từ việc xếp lương này làm tiền lương của bà Ng Th Th Nh thiếu mỗi tháng là 1.000.000 (Một triệu) đồng, tính từ tháng 4/2011 đến ngày 30/6/2017 là 06 năm 02 tháng = 74 tháng.
Trong thỏa ước lao động tập thể năm 2016 tại Điều 22 mục 9 khoản a có quy định: Người nghỉ hưu trí đúng tuổi được nghỉ tối đa 03 tháng hưởng đủ lương trước khi nghỉ hưu. Theo thông báo số 81/S-TCNS v/v CB.CNV nghỉ hưu trí, trong thông báo này, Tổng giám đốc ký cho bà được nghỉ ngơi từ ngày 01/4/2017 đến ngày 30/6/2017 hưởng nguyên lương theo quy định. Tuy nhiên, Công ty không trả cho bà Ng Th Th Nh lương trách nhiệm quản lý.
Vì vậy, bà Ng Th Th Nh yêu cầu Công ty Cổ phần H K Ng Q H phải thanh toán cho bà các khoản như sau:
- Chệnh lệch tiền lương từ tháng 4/2011 đến ngày 30/6/2017 là 68.308.036 (Sáu mươi tám triệu ba trăm linh tám nghìn không trăm ba mươi sáu) đồng.
- Lương phụ cấp trách nhiệm quản lý: 9.000.000 (Chín triệu) đồng.
- Tiền lương bổ sung quý 02/2017 (tức thưởng thi đua ngắn hạn) là 1.300.0000 (Một triệu ba trăm nghìn) đồng.
- Tiền lương trong thời gian chờ Công ty Cổ phần H K Ng Q H làm thủ tục nghỉ hưu theo Thông báo số 127/TB-CTY ngày 14/5/2013 (về việc di dời nơi làm việc của tổ sản xuất Axytelen thuộc xí nghiệp H K Ng Q H Bình Dương thuộc Công ty Cổ phần H K Ng Q H là 6.195.000 x 1,5 tháng lương = 9.292.500 (chín triệu hai trăm chín mươi hai nghìn năm trăm) đồng.
Bị đơn Công ty Cổ phần H K Ng Q H có bà L L Ch là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn vì các chứng cứ của nguyên đơn cung cấp chưa chính xác và thời hiệu tranh chấp tiền lương của nguyên đơn đã hết theo Điều 202 Bộ luật Lao động năm 2012. Hiện nay, bà Ng Th Th Nh đã nghỉ hưu, không còn là người lao động của công ty. Lương của bà Nh được tính theo hệ số 6,64 là 7.896.809 (Bảy triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn tám trăm lẻ chín) đồng/tháng, đã cao hơn so với lương tối thiểu vùng là 7%. Lương thực tế của bà Nhầ hàng tháng trước khi nghỉ hưu khoảng 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
Công ty không chấp nhận chi trả phụ cấp trách nhiệm quản lý là 9.000.000 (chín triệu) đồng và tiền thưởng thi đua Qúy II/2017 là 1.300.000 (Một triệu ba trăm nghìn) đồng, vì bà Ng Th Th Nh không có công làm việc thực tế từ tháng 04/2017 đến tháng 6/2017 và không tham gia thi đua.
Công ty Cổ phần H K Ng Q H đã có bản trình bày ý kiến số 367 ngày 02/10/2018. Về việc di dời nơi làm việc của Tổ sản xuất Axetylen, xí nghiệp H K Ng Q H Bình Dương thuộc Công ty Cổ phần H K Ng Q H theo Thông báo số 127 ngày 14/5/2013 chỉ là thông báo chế độ hưu trí đối với nam công nhân viên, không quy định cho người lao động nữ. Do bà Ng Th Th Nh là phó phòng kinh doanh nên không thuộc đối tượng mà hai văn bản số 126, 127 ngày 14/5/2013 áp dụng. Vì vậy, yêu cầu này của bà Ng Th Th Nh là không có căn cứ.
Tóm lại Công ty Cổ phần H K Ng Q H không đồng ý với toàn bộ yêu cầu của bà Ng Th Th Nh.
Tại bản án lao động sơ thẩm số 10/2018/LĐ-ST ngày 09/11/2018 Tòa án nhân dân Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Ng Th Th Nh về việc yêu cầu bị đơn Ng Th Th Nh phải thanh toán cho nguyên đơn các khoản:
- Tiền lương chênh lệch từ tháng 4/2011 đến ngày 30/6/2017 là 68.308.036 (Sáu mươi tám triệu ba trăm linh tám nghìn không trăm ba mươi sáu) đồng.
- Lương phụ cấp trách nhiệm quản lý: 9.000.000 (Chín triệu) đồng.
- Tiền lương bổ sung quý 02/2017 (tức thưởng thi đua ngắn hạn) là 1.300.0000 (Một triệu ba trăm nghìn) đồng.
- Tiền lương trong thời gian chờ Công ty Cổ phần H K Ng Q H làm thủ tục nghỉ hưu theo Thông báo số 127/TB-CTY ngày 14/5/2013 (về việc di dời nơi làm việc của tổ sản xuất Axytelen thuộc xí nghiệp H K Ng Q H Bình Dương thuộc Công ty Cổ phần H K Ng Q H là 6.195.000 x 1,5 tháng lương = 9.292.500 (chín triệu hai trăm chín mươi hai nghìn năm trăm) đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 20/11/2018, bà Ng Th Th Nh có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án phúc thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Ng Th Th Nh trình bày: Bà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận đơn kháng cáo và sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty Cổ phần H K Ng Q H là bà Lê Lan Chi trình bày: Đề nghị Tòa án giữ nguyên bản án sơ thẩm và không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Ng Th Th Nh. Đồng thời, bà Lê Lan Chi đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc Công ty Cổ phần H K Ng Q H tự nguyện hỗ trợ cho bà Ng Th Th Nh số tiền là 9.000.000 (Chín triệu) đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo hợp lệ vì nộp trong thời hạn pháp luật qui định. Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định pháp luật.
Về nội dung:
Bà Ng Th Th Nh kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nhưng không cung cấp được chứng minh cho yêu cầu của mình nên không có căn cứ để chấp nhận. Tại phiên tòa hôm nay Công ty Cổ phần H K Ng Q H tự nguyện hỗ trợ cho bà Ng Th Th Nh số tiền là 9.000.000 (Chín triệu) đồng. Do đó, căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Ng Th Th Nh và sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của Công ty Cổ phần H K Ng Q H trả cho bà Ng Th Th Nh số tiền là 9.000.000 (Chín triệu) đồng, các phần khác của bản án cần được giữ nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các bên trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bà Ng Th Th Nh nộp trong hạn luật định nên được xem xét chấp nhận.
[2] Về nội dung:
Về yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Ng Th Th Nh:
Đối với tiền chênh lệch lương từ tháng 4/2011 đến hết tháng 6/2017:
Từ tháng 4/2011 đến tháng 6/2017: Bà Ng Th Th Nh được trả lương theo hệ số lương nội bộ là 6,64. Như vậy, tổng tiền lương đã nhận của bà Ng Th Th Nh là 531.224.344 (Năm trăm ba mươi mốt triệu hai trăm hai mươi bốn nghìn ba trăm bốn mươi bốn) đồng và trung bình tháng bà Nh đã nhận là 7.673.241 (bảy triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm bốn mươi mốt) đồng. Mức lương từng tháng như trên đã cao hơn mức lương nộp bảo hiểm xã hội cho bà là 1.615.921 (một triệu sáu trăm mười lăm nghìn chín trăm hai mươi mốt) đồng. Đồng thời, căn cứ vào bảng thanh toán lương từ tháng 4/2011 đến tháng 6/2017, bà Ng Th Th Nh đều có ký nhận. Do vậy, bà Ng Th Th Nh đã biết và hiểu rõ số tiền lương được trả mỗi tháng của bà nên việc nguyên đơn cho rằng bà bị Công ty Cổ phần H K Ng Q H trả thiếu tiền lương là không có cơ sở.
Đối với với yêu cầu nhận tiền thưởng thi đua ngắn hạn là 1.300.000 (một triệu ba trăm nghìn đồng):
Căn cứ theo Điều 2 Quyết định số 151/QĐ-TCNS ngày 28/7/2017 về việc thưởng thi đua năm 2017 của Công ty thì tiền thưởng thi đua được chia căn cứ theo quy chế lương của đơn vị, mức lương, ngày làm việc thực tế và kết quả bình xét đối với từng cá nhân. Thực tế từ tháng 04/2017 đến tháng 6/2017, bà Ng Th Th Nh đã được nghỉ chờ chế độ hưu trí, không có có ngày làm việc thực tế, không tham gia thi đua nên yêu cầu đòi tiền thưởng của bà là không có cơ sở để chấp nhận.
Đối với yêu cầu trả tiền trong thời gian chờ làm thủ tục hưu trí là 9.292.500 (chín triệu hai trăm chín mươi hai nghìn năm trăm đồng):
Theo Thông báo số 126/S-KHVT và Thông báo số 127/TB-CTY ngày 14/5/2013 của Công ty TNHH Một thành viên H K Ng Q H nay là Công ty Cổ phần H K Ng Q H thì bà Ng Th Th Nh không thuộc đối tượng điều chỉnh của văn bản này do là Phó Phòng Kinh doanh – Dịch vụ và không thuộc phân xưởng sản xuất phải di dời xuống Biên Hòa. Vì vậy, yêu cầu này của bà Ng Th Th Nh là không có cơ sở để chấp nhận.
Đối với yêu cầu trả tiền phụ cấp trách nhiệm quản lý: Nguyên đơn bà Ng Th Th Nh cho rằng căn cứ theo quy định của Điều Thỏa ước lao động tập thể của Công ty Cổ phần H K Ng Q H có thể hiện việc Công ty có trách nhiệm trả tiền lương và phụ cấp cho bà trong thời gian chờ nghỉ hưu trí. Căn cứ theo quy định tại khoản 9 Điều 22 Thỏa ước Lao động tập thể của Công ty Cổ phần H K Ng Q H thì không quy định Công ty không có trách nhiệm trả tiền phụ cấp cho bà Ng Th Th Nh và bà Nh cũng đã được trả đầy đủ tiền lương trong thời gian chờ nghỉ việc.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bà Lê Lan Chi là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần H K Ng Q H đề nghị Hội đồng xét xử Công ty tự nguyện hỗ trợ cho bà Ng Th Th Nh tiền phụ cấp trách nhiệm trong thời gian chờ nghỉ hưu là 9.000.000 (Chín triệu) đồng. Xét thấy, việc hỗ trợ này là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận và sửa lại phần này của bản án sơ thẩm.
Từ những phân tích và căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nghĩ không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Ng Th Th Nh, ghi nhận sự tự nguyện của Công ty Cổ phần H K Ng Q H hỗ trợ cho bà Ng Th Th Nh số tiền là 9.000.000 (Chín triệu) đồng và không chấp nhận yêu cầu của bà Ng Th Th Nh buộc Công ty Cổ phần H K Ng Q H phải trả những khoản sau:
- Tiền lương chênh lệch từ tháng 4/2011 đến ngày 30/6/2017 là 68.308.036 (Sáu mươi tám triệu ba trăm linh tám nghìn không trăm ba mươi sáu) đồng.
- Tiền lương bổ sung quý 02/2017 (tức thưởng thi đua ngắn hạn) là
1.300.0000 (Một triệu ba trăm nghìn) đồng.
- Tiền lương trong thời gian chờ Công ty Cổ phần H K Ng Q H làm thủ tục nghỉ hưu theo Thông báo số 127/TB-CTY ngày 14/5/2013 (về việc di dời nơi làm việc của tổ sản xuất Axytelen thuộc xí nghiệp H K Ng Q H Bình Dương thuộc Công ty Cổ phần H K Ng Q H là 6.195.000 x 1,5 tháng lương = 9.292.500 (chín triệu hai trăm chín mươi hai nghìn năm trăm) đồng.
[3] Về án phí: Bà Ng Th Th Nh thuộc trường hợp được miễn theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì vậy, bà Ng Th Th Nh được hoàn lại tiền tạm ứng án phí lao động phúc thẩm là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2014/00095776 ngày 20/11/2018.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 31, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 36, Điều 47, Điều 48, Điều 90, Điều 111 Bộ Luật Lao động 2012;
- Căn cứ điểm a Khoản 1 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về án mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử: Sửa một phần bản án sơ thẩm
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Ng Th Th Nh về việc yêu cầu bị đơn Ng Th Th Nh phải thanh toán cho nguyên đơn các khoản:
1.1. Tiền lương chênh lệch từ tháng 4/2011 đến ngày 30/6/2017 là 68.308.036 (Sáu mươi tám triệu ba trăm linh tám nghìn không trăm ba mươi sáu) đồng.
1.2. Tiền lương bổ sung quý 02/2017 (tức thưởng thi đua ngắn hạn) là 1.300.0000 (Một triệu ba trăm nghìn) đồng.
1.3. Tiền lương trong thời gian chờ Công ty Cổ phần H K Ng Q H làm thủ tục nghỉ hưu theo Thông báo số 127/TB-CTY ngày 14/5/2013 (về việc di dời nơi làm việc của tổ sản xuất Axytelen thuộc xí nghiệp H K Ng Q H Bình Dương thuộc Công ty Cổ phần H K Ng Q H là 6.195.000 x 1,5 tháng lương = 9.292.500 (chín triệu hai trăm chín mươi hai nghìn năm trăm) đồng.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty Cổ phần H K Ng Q H hỗ trợ cho bà Ng Th Th Nh tiền phụ cấp quản lý là 9.000.000 (Chín triệu) đồng.
3. Về án phí
Án phí lao động sơ thẩm: Bà Ng Th Th Nh được miễn án phí.
Án phí lao động phúc thẩm: Bà Ng Th Th Nh được hoàn lại tiền tạm ứng án phí lao động phúc thẩm là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2014/00095776 ngày 20/11/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Tối cao; - Tòa án nhân dân Cấp cao tại TP.HCM; - Viện KSND Cấp cao tại TP.HCM; - Viện KSND Thành phố Hồ Chí Minh;" - Chi cục THADS Quận L; - Tòa án nhân dân Quận L; - Viện KSND quận Quận L; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Hoa |