- Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn Hải V "cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần…"
- Tòa quyết gì? 1, Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 197/2018/HS-ST Ngày 30 - 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thu Hương
Ông Trịnh Văn Nhất
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên toà: Ông Đoàn Thế Đức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 195/2018/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 205/2018/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hải V, sinh năm 1984; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: số nhà 110, đường N, phường L, thành phố B, tỉnh B; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 11/12; Con ông: Nguyễn Thanh P, sinh năm 1955 và
, sinh năm 1959;
chị em, bị cáo con thứ hai;
: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/9/2018 đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).
* Bị hại: Anh V NA, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố G, phường X, thành phố B, tỉnh B.
* Người chứng kiến:
- Chị Đoàn Thu T, sinh năm 1988 (Vắng mặt)
Địa chỉ: số nhà 31, đường H, phường X, thành phố B, tỉnh B.
- Anh Nguyễn Đức Q, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố F, phường X, thành phố B, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hải V sinh năm 1984, trú tại số nhà 110, đường N, phường L, thành phố B và anh V NA sinh năm 1984, trú tại tổ dân phố G, phường X, thành phố B có sự mâu thuẫn với nhau từ trước. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 12/9/2018, Nguyễn Hải V đi bộ đến quán điền tử ở số nhà 31, đường H, phường X, thành phố B do chị Đoàn Thu T sinh năm 1988 làm chủ tìm anh V NA để giải quyết mâu thuẫn; V đi vào trong quán điện tử thấy anh NA đang chơi game tại bàn máy bắn cá cùng với chị T và anh Nguyễn Đức Q sinh năm 1993, trú tại tổ dân phố F, phường X, thành phố B. V đi đến nói với anh NA là "Mày nghĩ tao là trẻ con à, tao còn có các anh em khác" thì anh NA đáp "Em có sai gì với anh đâu". Thấy anh NA nói vậy, V cuối người xuống lấy một nửa chiếc kéo bằng kim loại ở gầm máy chơi bắn cá cầm trên tay phải đi đến chỗ anh NA đang ngồi, thấy V đi đến anh NA đứng dậy thì V cầm kéo đuổi theo đam một nhát trúng cẳng tay trái anh NA; anh NA bỏ chạy thì bị ngã ra nền nhà, V đuổi đuổi theo đâm một nhát trúng vùng ngực trái đường nách sau làm anh NA bị thương chảy máu và được mọi người can ngăn, V bỏ nửa chiếc kéo vào gầm máy chơi bắn cá rồi rời khởi hiện trường, anh NA được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B.
Cùng ngày 12/9/2018, Cơ quan điều tra đã khám nghiệm hiện trường, thu giữ 01 lưỡi kéo kéo bằng kim loại dài 28cm; phần lưỡi sáng màu dài 12,5cm; chỗ rộng nhất 2,5cm mũi nhọn, phần tay cầm bọc nhựa màu đen trên có dán băng dính màu đen.
Anh V NA được cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B từ ngày 12/9/2018 đến ngày 19/9/2018 thì ra viện.
Tại gấy chứng nhận thương tích ban đầu số vào viện 102534 ngày 13/9/2018, Bệnh viện Đa khoa tỉnh B xác định tình trạng thương tích của anh V NA lúc vào viện (bút lục 33):
- Tỉnh, da niêm mạc hồng.
- Khó thở nhiều, nhịp thở 28l/p.
- Đau tức ngực trái.
- Vết thương ngực trái, khoang liên sườn V đường kính nách sau, kích thước 01cm, chảy máu nhiều.
- Vết thương cẳng tay trái, kích thước 01cm ở 1/3 giữa cẳng taytrais.
- Phổi trái rì rào phế nang giảm.
- CT-Scaner: Có sonde dẫn lưu khoang màng phổi trái, có ít khí, ít dịch khoang màng phổi trái, xẹp phổi thụ động thùy lưỡi phổi trái; tràn khí dưới da diện rộng thành ngực trái.
- Siêu âm: HoHL nhẹ; chức năng tâm thu thất trái trong giới hạn bình thường (siêu âm tư thế nằm ngửa).
Ngày 13/9/2018, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B giám định thương tích và cơ chế hình thành thương tích anh V NA.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 8465/18/TgT ngày 13/9/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B kết luận anh V NA được xác định:
- Dấu vết chính qua giám định:
+ Thương tích vết thương vùng ngực đường nách sau, sonde dẫn lưu đường nách giữa + CT Scanner: có ít khí, ít dịch khoang màng phổi trái: 7%.
+ Thương tích vết thương mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái: 3%.
- Kết luận: Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ y tế, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 10%.
- Kết luận khác:
+ Thương tích do vật sắc nhọn gây nên.
+ Chưa đánh giá di chứng dày dính màng phổi trái do bệnh nhân còn đang điều trị (bút lục 35-36).
Tại gấy chứng nhận thương tích số vào viện 125034 ngày 04/10/2018, Bệnh viện Đa khoa tỉnh B xác định tình trạng thương tích của anh V NA lúc vào viện (bút lục 38):
- Tỉnh, da niêm mạc hồng.
- Khó thở nhiều, nhịp thở 28l/p.
- Đau tức ngực trái.
- Vết thương tự do kích thước 01cm khoang liên sườn V đường kính nách sau, vết thương sắc gọn thông qua các cơ liên sườn thông vào phổi trái, có khí phì phò qua vết thương.
- Vết thương cẳng tay trái ở 1/3 giữa mặt sau cẳng tay trái, sâu sát xương, đứt một phần cơ khu cẳng tay sau.
- Phổi trái rì rào phế nang giảm.
- CT-Scaner: Có sonde dẫn lưu khoang màng phổi trái, có ít khí, ít dịch khoang màng phổi trái, xẹp phổi thụ động thùy lưỡi phổi trái; tràn khí dưới da diện rộng thành ngực trái.
- Siêu âm: HoHL nhẹ; chức năng tâm thu thất trái trong giới hạn bình thường (siêu âm tư thế nằm ngửa).
Ngày 10/10/2018, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B giám định bổ sung tỷ lệ thương tích và cơ chế hình thành thương tích anh V NA.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích bổ sung số 8497/18/TgT ngày 11/10/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B kết luận anh V NA được xác định (bút lục 69):
* Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ y tế, tỷ lệ tổn thương bổ sung của ông V NA như sau:
+ Thương tích vết thương vùng ngực đường nách sau, sonde dẫn lưu đường nách giữa + CT Scanner: có ít khí, ít dịch khoang màng phổi trái + X quang: không thấy tổn thương xương lồng ngực. Hình ảnh phooirbinhf thường: Tỷ lệ bổ sung là 3%.
+ Thương tích vết thương mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái: tỷ lệ bổ sung là 1%.
- Tỷ lệ thương tích bổ sung là: 3% + 1% = 4%.
* Tổng tỷ lệ của ông V NA là: 10% + 4% = 14%.
Ngày 14/9/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Hải V (không thu giữ đồ vật tài sản gì).
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh V NA yêu cầu bị cáo Nguyễn Hải V bồi thường tiền viện phí là 10.272.696 đồng và tiền tổn hại tinh thần theo quy định pháp luật; bị cáo Nguyễn Hải V chưa bồi thường dân sự.
Quá trình điều tra, Nguyễn Hải V đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của bản thân.
Cáo trạng số 208/CT-VKS ngày 14/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố Nguyễn Hải V về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 - Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà hôm nay:
* Bị cáo Nguyễn Hải V một lần nữa khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng số 208/KSĐT ngày 14/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã nêu và trình bày: Bị cáo nhận thức hành vi gây thương tích cho anh NA ngày 12/9/2018 là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo đồng ý bồi thường cho anh NA tiền viện phí là 10.272.696 đồng và tổn thất tinh thần bằng 12 tháng lương cơ sở là 16.680.000 đồng.
* Bị hại là anh V NA vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: Khoảng 13 giờ ngày 12/9/2018, anh đang ngồi chơi bắn cá tại số nhà 31, đường H, phường X, thành phố B cùng với hai nam thanh niên khác thì anh Nguyễn Hải V (thường gọi là V Phong) đến. Anh ngẩng mặt lên chào V rồi lại tập trung chơi bắn cá, V có nói gì đó với anh nhưng anh không nghe rõ. Khi anh nhìn lên thì đã thấy V tiến đến gần vị trí anh đang ngồi và rút trong người ra một nửa chiếc kéo bằng kim loại cầm trên tay phải xông vào đâm anh. Theo phản xạ anh đứng dậy giơ tay trái lên đỡ thì bị V đâm thẳng vào cẳng tay làm anh bị thương. Anh lùi người lại phía sau thì chân bị vấp vào chiếc giường gấp ở gần đó làm anh bị ngã xuống nền nhà mất tư thế. V tiếp tục cầm nửa chiếc kéo đâm vào sườn bên trái phía sau của anh làm anh bị thương. Được mọi người can ngăn nên V đã bỏ đi còn anh được mọi người đưa vào viện cấp cứu. Sự việc trên khiến anh bị tổn thương sức khỏe tỷ lệ 14%. Nay anh yêu cầu V phải bồi thường tiền viện phí là 10.272.696 đồng và tổn thất tinh thần theo quy định của pháp luật.
* Người chứng kiến là chị Đoàn Thị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: Khoảng 12 giờ ngày 12/9/2018, chị đang trông coi quán game bắn cá của gia đình tại số nhà 31, đường H, phường X, thành phố B và tại quán khi đó có ba nam thanh niên đang chơi là Q, Đức Anh (sau này chị được biết tên thật là NA) và một nam thanh niên khác chị không biết tên. Khi Đức Anh đang chơi game ở máy ngoài cùng mặt hướng ra ngoài cửa thì V Phong (sau này chị biết tên là Hải V) từ ngoài đường H đi vào trong quán của chị. V Phong có chửi NA rồi tiến gần đến vị trí máy bắn cá mà NA đang ngồi. NA đứng dậy và chị nhìn thấy V Phong cầm một vật gì đó đâm vào tay của NA làm NA ngã. V Phong vẫn tiếp tục đâm về phía NA. Chị thấy NA bị chảy máu ở tay còn V Phong sau đó bỏ đi. Mọi người đưa NA vào viện sơ cứu. Một lúc sau V Phong quay lại hỏi chị xem NA có làm sao không. Chị bảo NA bị thương nặng phải đi viện rồi thì V Phong vứt vật gì đó vào gầm máy bắn cá trong quán của chị rồi bỏ đi.
* Người chứng kiến là anh Nguyễn Hữu Q vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 12/9/2018, anh đang chơi bắn cá tại số nhà 31, đường H, phường X, thành phố B cùng với anh Quang nhà ở Lạng Sơn, chị T chủ quán bắn cá và anh Đức Anh (sau này anh biết tên thật là NA) thì anh V Phong (sau này anh biêt tên thật là Hải V) đến và chửi Đức Anh “Đức Anh mày như nào?”, anh Đức Anh vừa nói “Bình tĩnh” thì anh V Phong rút một cái kéo từ cạp quần và dùng tay phải đâm vào tay trái của Đức Anh. Sau đó Đức Anh lùi lại và ngã ra đất. Tiếp đó V Phong đâm tiếp một nhát nữa vào mạn sườn trái của Đức Anh làm Đức Anh ngã gục. V Phong đứng chửi Đức Anh rồi bỏ đi. Sau đó anh gọi taxi đưa Đức Anh vào viện.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
1, Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2, Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải V từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/9/2018.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 - Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 585 và Điều 590 - Bộ luật dân sự 2015: Buộc bị cáo bồi thường cho anh V NA tiền viện phí là 10.272.696 đồng và tiền tổn thất tinh thần bằng 12 tháng lương cơ sở là 16.680.000 đồng.
4. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 lưỡi kéo bằng kim loại dài 28cm, phần lưỡi sáng màu dài 12,5cm, chỗ rộng nhất 2,5cm mũi nhọn, phần tay cầm bọc nhựa màu đen trên có dán băng dính màu đen.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Hải V phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm Q, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 12/9/2018 tại Cửa hàng chơi điện tử ở số nhà 31, đường H, phường Dĩnh Kế, thành phố B; Nguyễn Hải V nhát vào cẳng tay trái, một nhát trúng vùng ngực trái nách sau anh V NA sinh năm 1984, trú tại tổ dân phố G, phường X, thành phố B làm anh V NA bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 14%. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hải V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 - Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo theo điểm, khoản, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt:
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì mà bị cáo dùng 01 lưỡi kéo đâm một nhát vào cẳng tay trái, một nhát trúng vùng ngực trái nách sau anh V NA; hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường sức khỏe của người khác, gây thương tích ở nơi công cộng, không tuân thủ nguyên tắc sống trong xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự gì.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 - Bộ luật hình sự 2015.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện; căn cứ nhân thân và tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo giáo dục bị cáo thành người công dân biết tuân thủ pháp luật, có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho anh NA tiền viện phí là 10.272.696 đồng và tiền tổn thất tinh thần bằng 12 tháng lương cơ sở là 16.680.000 đồng. Do vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường dân sự cho anh NA là phù hợp với quy định tại Điều 585 và Điều 590 - Bộ luật dân sự 2015.
Về vật chứng: 01 lưỡi kéo bằng kim loại dài 28cm, phần lưỡi sáng màu dài 12,5cm, chỗ rộng nhất 2,5cm mũi nhọn, phần tay cầm bọc nhựa màu đen trên có dán băng dính màu đen là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1, Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải V phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2, Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hải V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/9/2018.
3, Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 - Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 585 và Điều 590 - Bộ luật dân sự 2015.
- Buộc bị cáo Nguyễn Hải V bồi thường cho anh V NA tiền viện phí là 10.272.696 đồng và tiền tổn thất tinh thần bằng 12 tháng lương cơ sở là 16.680.000 đồng.
Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án. Nếu bên phải thi hành không thi hành thì hàng tháng còn phải trả cho bên được thi hành số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 - Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành số tiền còn phải trả.
4, Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 01 lưỡi kéo bằng kim loại dài 28cm, phần lưỡi sáng màu dài 12,5cm, chỗ rộng nhất 2,5cm mũi nhọn, phần tay cầm bọc nhựa màu đen trên có dán băng dính màu đen.
(Vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 178/QĐ-VKS ngày 15/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B và Biên bản giao nhận tài sản tạm giữ ngày 30/11/2018).
5, Về án phí, Q kháng cáo: Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Hải V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.347.634 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có Q kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có Q kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có Q thoả thuận thi hành án, Q yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
T/M - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh B; - VKSND Tỉnh B: - VKSND TP B; - Công an TP B; - Chi cục THADS TP B; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. | ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa Đinh Thị Vân Anh |