- Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Văn H, Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------- Bản án số: 197/2017/HSST Ngày 25/9/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Toán; Bà Phan Thị Nhụ.
Những người tiến hành tố tụng khác tại phiên tòa:
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Hòa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Võ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Phụng, Kiểm sát viên;
Ngày 25/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 198/2017/HSST, ngày 08/9/2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2017/QĐXX-HSST ngày 11/9/2017 đối với bị cáo:
Phạm Văn H - sinh năm 1982; HKTT: Mao Dộc - Phượng Mao - Quế Võ - Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 12/12 ; Bố đẻ: Phạm Văn K (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị G - sinh năm 1963; Gia đình có 04 anh em, bị caó là thứ ba; Vợ, con: Chưa.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 30/10/2003, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong ngày 22/11/2004.
Ngày 24/12/2008, bị Chủ tịch UBND huyện Quế Võ ra quyết định đưa vào trung tâm Giáo dục dạy nghề hướng thiện tỉnh Bắc Ninh 24 tháng; ngày 25/12/2010 chấp hành xong.
Ngày 02/11/2012, bị Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà 24 tháng; ngày 16/10/2014 chấp hành xong.
Tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/6/2017 đến nay; (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Phạm Văn H là đối tượng nghiệm ma túy. Khoảng 21 giờ 50 phút ngày 02/6/2017, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H đã gọi điện cho người thanh niên tên Ước hỏi: “Có ma túy không? Để cho anh một triệu tiền ma túy tổng hợp”. Ước trả lời: “Có” và hẹn H lên khu vực đình làng thôn Giang Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ để bán hàng. H đồng ý. Sau đó, H đi bộ từ nhà ra Quốc lộ 18 và bắt xe ôm của một người không quen biết đến điểm hẹn thì xuống xe. H nhìn thấy Ước đang ngồi tại quán nước ở gần cổng đình, H tiến lại gần và hỏi: “Hàng đâu?” Ước trả lời: “Đưa tiền đây”. H đưa cho Ước 1.000.000 đồng. Ước cầm tiền và nói: “Ma túy em để trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng ở gần cổng đình”. H nhìn ra phía cổng đình cách chỗ H ngồi khoảng một mét thì thấy một vỏ bao thuốc lá Thắng Long màu vàng. H cúi xuống nhặt lên, biết đó là ma túy cần mua nên cầm và đút vào túi quần phía trước bên trái H đang mặc. Đúng lúc này bị Công an huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Công an xã Phương Liễu, huyện Quế Võ bắt quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật .
Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ một vỏ bao thuốc lá Thăng long màu vàng bên trong có một túi nilon màu đen chứa hai túi nilon màu trắng, trong đó một túi nilon chứa chất dạng tinh thể màu trắng, một túi nilon chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng một mặt có chữ WY tại túi quần phía trước bên trái của H được niêm phong trong phong bì thư theo quy định.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội cuả mình như cáo trạng đã nêu là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yêu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Tại bản Kết luận giám định số 765/KLGĐ-PC54 ngày 03/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất dạng tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng có trọng lượng là 2,0024 gam; là ma túy; loại ma túy: chất Methamphetamine; 02 (hai) viên nén hình tròn màu hồng trên một mặt của hai viên đó có chữ WY bên trong một túi nilon màu trắng có trong lượng 0,1926 gam; là ma túy; loại ma túy: chất Methamphetamine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với kết luận giám định.
Bản cáo trạng số 155/CTr-VKS ngày 06/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau; Phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang và toàn bộ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cuả bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ”
Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 194; Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội xử phạt Phạm Văn Hùng từ 24 đến 30 tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ tạm giam.
Đề nghị áp dụng Điều 41 BLHS; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy tang vật là số ma túy còn lại sau giám định;
Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt;
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CUẢ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quế Võ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định cuả Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định cuả Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Nội dung vụ án đã thể hiện rõ: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 02/6/2017, tại khu vực cổng đình thôn Giang Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, Phạm Văn H đang có hành vi tàng trữ trái phép trên người 2,195 gam ma túy, chất Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị công an phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” phạm vào khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma túy làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội cuả Nhà nước, việc đấu tranh đối với các tội phạm về ma túy hiện nay là nhiệm vụ cuả toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bất chấp sự ngăn cấm cuả pháp luật, bị cáo đã có hành vi tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân nên đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi cuả bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma túy trên địa bàn dân cư. Vì vây, cần xét xử bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân;
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cuả bị cáo thì thấy;
Tình tiết tăng nặng: Không có;
Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu: Năm 2003, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong ngày 22/11/2004; Năm 2008, bị Chủ tịch UBND huyện Quế Võ ra quyết định đưa vào trung tâm Giáo dục dạy nghề hướng thiện tỉnh Bắc Ninh 24 tháng; ngày 25/12/2010 chấp hành xong; Năm 2012, bị Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc Thanh Hà 24 tháng; ngày 16/10/2014 chấp hành xong. Đây là các tình tiết cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm p khoản 1 điều 46 BLHS
Mặt khác bộ luật hình sự 2015 đã được thông qua ngày 09/12/2015 tuy đến nay chưa có hiệu lực nhưng với tinh thần của bộ luật mới và với nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên cần áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 để cân nhắc quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Từ những phân tích trên xét cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ giáo dục đối với bị cáo;
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện hút ma túy nên xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với người đàn ông tên Ước theo lời khai của H là người đã bán ma tuý cho H ngày 02/6/2017, H không biết tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Võ tách ra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ được sẽ đề nghị xử lý sau.
Đối với chiếc điện thoại H sử dụng để liên lạc mua ma túy, H khai quá trình đi xe ôm đi mua ma túy H đã làm rơi mất không thu hồi được.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định cuả pháp luật;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điều 33; Điểm p, khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 99; Điều 228 BLTTHS; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Nghị quyết 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTV Quốc Hội;
Xử phạt: Phạm Văn H 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2017;
Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Áp dụng điều 41 BLHS; Điều 76 BLTTHS; Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có đặc điểm như mô tả tại biên bản bàn giao vật chứng ngày 07/9/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Võ.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Quế Võ; - Công an huyện Quế Võ. - Chi cục THADS huyện Quế Võ - Bị cáo; - Lưu; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thúy Hằng |