vanban.org

Bản án 196a/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 29/04/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn với anh Đặng Hữu Nh.

Về con chung: Giao cháu Đặng Nh Minh, sinh ngày 15/4/2024 cho chị Nguyễn Thị Ng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Nguyễn Thị Ng chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau khi ly hôn, anh Đặng Hữu N…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn với anh Đặng Hữu Nh.
  • Căn cứ chính? Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:196a/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29/04/2025
V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Mai Khanh

Ông Trần Xuân Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 86/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 2 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 150/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1992; Địa chỉ: Xóm Kim Liên, thị trấn Quán Hành, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Đặng Hữu Nh, sinh năm 1986. Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm Kim Liên, thị trấn Quán Hành, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Hiện đang ở Đức; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ng trình bày:

Chị và anh Đặng Hữu Nh kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Quán Hành, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An vào ngày 04/01/2023. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn thì anh Nh đi xuất khẩu lao động ở Cộng Hòa Liên Bang Đức. Từ đó vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ở xa nhau, không tin tưởng nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Hữu Nh.

- Về con chung: Chị và anh Đặng Hữu Nh có 01 con chung là Đặng Nh Minh, sinh ngày 15/04/2024. Hiện nay cháu Minh đang ở với chị Ng. Ly hôn chị Ng có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh Nh cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Đặng Hữu Nh, do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Nguyễn Thị Ng không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Nh ở CHLB Đức. Theo chị Ng trình bày anh Nh vẫn thường xuyên liên lạc về với bố mẹ là ông Đặng Hữu Hòa và bà Đặng Thị Lan; địa chỉ cư trú: xóm Kim Liên, thị trấn Quán Hành, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và bà Lan biết địa chỉ cụ thể của anh Nh ở CHLB Đức đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã gửi văn bản cho bà Đặng Thị Lan (là mẹ đẻ của anh Đặng Hữu Nh) thông báo về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án để bà Hoa thông báo cho anh Nh và đề nghị anh Nh nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị Ng. Tại biên bản xác minh, bà Đặng Thị Lan cho biết bà thường xuyên liên lạc với anh Nh. Thông qua bà thì anh Nh đồng ý ly hôn với chị Ng và Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của anh Nh trước khi đi nước ngoài. Tuy nhiên, anh Nh không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn với anh Đặng Hữu Nh. Về con chung: Giao con chung là cháu Đặng Nh Minh cho chị Nguyễn Thị Ng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Nguyễn Thị Ng chưa yêu cầu nên không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình có đương sự hiện đang ở CHLB Đức. Trước khi xuất cảnh anh Đặng Hữu Nh có địa chỉ tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Đặng Hữu Nh hiện đang ở CHLB Đức, không có địa chỉ cụ thể. Bà Đặng Thị Lan, mẹ đẻ anh Nh đã thông báo cho con trai về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu bà Lan cung cấp địa chỉ cụ thể của anh Nh ở CHLB Đức nhưng bà Lan không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của anh Nh trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Ng nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ng vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn anh Đặng Hữu Nh vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.

[2 Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Đặng Hữu Nh kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc một thời gian thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp, anh Nh đang sinh sống làm việc ở tại CHLB Đức, chị Ng ở Việt Nam, hai bên không còn liên lạc, quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Chị Ng có nguyện vọng được ly hôn với anh Nh. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa hai bên không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Ng được ly hôn với anh Nh là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ng và anh Đặng Hữu Nh có 01 con chung là Đặng Nh Minh, sinh ngày 25/4/2024. Chị Ng có nguyện vọng được nuôi cháu Minh. Xét thấy, anh Nh hiện đang ở nước ngoài, giao con chung cho chị Ng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Ng chưa yêu cầu và anh Nh cũng chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ng không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

[3] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Ng phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Ng.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ng được ly hôn với anh Đặng Hữu Nh.

- Về con chung: Giao cháu Đặng Nh Minh, sinh ngày 15/4/2024 cho chị Nguyễn Thị Ng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Nguyễn Thị Ng chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Sau khi ly hôn, anh Đặng Hữu Nh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc Chị Nguyễn Thị Ng phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0013969 ngày 10 tháng 02 năm 2025.

3. Chị Nguyễn Thị Ng có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; Anh Đặng Hữu Nh có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ