- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thanh S - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? 1/. Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Thanh S, phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 196/2024/HS-ST Ngày: 25 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trúc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dư Văn Thanh.
Ông Huỳnh Phước .
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân thành phố S, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 192/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 185/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Huỳnh Thanh S, tên gọi khác: C, sinh ngày 24/12/1992 tại Sóc Trăng. Nơi đăng ký thường trú: ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở: số C đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Minh H và bà Trần Thị Ngọc M; Vợ: chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Út L, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng bị pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/4/2024 cho đến nay (có mặt).
- Bị hại:
Bà Trương Kiều D, sinh năm 1999. Nơi cư trú: số C đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Ông Nguyễn Tấn Q, sinh năm 1986. Nơi cư trú: số G đường P, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Ông Trương Đình K, sinh năm 2005. Nơi cư trú: số C đường N, Khóm C, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 30 tháng 11 năm 2023, Huỳnh Thanh S cùng với mấy người bạn nhậu tại nhà của S tại số C, đường N, khóm C, phường B thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Đến khoảng 20 giờ 00 phút, cùng ngày thì nghỉ nhậu, lúc này S nhớ lại chuyện cũ trước đó vài ngày giữa S và bà Nguyễn Huỳnh H1 nhà kế bên nhà của S có địa chỉ số C, đường N, khóm C, phường B thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, cự cải với nhau, về việc bà H1 cho rằng S tưới cây và rữa sân trước nhà của S làm nước tràn qua sân nhà của bà H1, nên S bực tức chửi bà H1. Lúc này trong nhà chỉ có Trương Kiều D là con ruột của bà H1, khi nghe S chửi nên đi ra ngoài nói chuyện với S, sau đó Nguyễn Tấn T là em ruột của bà H1 cũng đi ra nói chuyện với S, nhưng không có xảy ra vụ việc đánh nhau. Một lúc sau, thì T đi vào nhà của bà H1, còn D đi qua nhà của Nguyễn Tấn Q là cậu ruột của D, lúc này bà H1 ở trong nhà của Q, nên D nói cho bà H1 nghe việc S chửi bà H1, nên sau đó bà H1 cùng với D điều khiển xe về nhà. Vì sợ xảy ra đánh nhau, nên Trương Đình K con ruột của bà H1 cũng chạy xe chở Q chạy theo sau.
Khi về đến nhà, bà H1 dựng xe trước cổng rào nhìn thấy S đứng trước nhà cửa nhà, lúc này bà H1 hồ lớn “Mầy muốn gì, mầy muốn gì”, S mới lượm chiếc dép trước cửa nhà ném về hướng bà H1 nhưng không trúng, bà H1 mới lượm trái dừa khô ở khu vực gần đó ném về hướng S nhưng không trúng, S tiếp tục lượm trái dừa khô của bà H1 vừa ném, ném lại bà H1 nhưng cũng không trúng, lúc này bà H1 hô lớn, “Nó đánh mẹ, nó đánh mẹ" khi nghe tiếng của bà H1 la lên, Q nhặt một đoạn ống tiếp bà H1 chạy qua nhà của S, khi thấy Q chạy qua, S vào trong nhà lấy sắt gần đó từ bên nhà của 01 cây dao dài khoảng 33 cm, cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, chạy ra, khi vừa ra tới cổng, thì Q cầm một đoạn ống tiếp sắt đánh trúng vào vùng vai của S, sau đó S dùng dao chém lại trúng ngón 1 tay trái, ngón 2 tay trái và vùng bụng của Q gây thương tích làm Q trượt té nằm ngữa ra ngoài đường, lúc này S tiếp tục cầm dao xông vào chém Q. Khi thấy S cầm dao chém Q, D xông vào can ngăn, nên bị S chém trúng vào vùng mặt và cổ tay phải của D gây thương tích, cùng lúc này K từ bên nhà chạy qua tay cầm đoạn tre đánh liên tiếp trúng vào tay và vùng đầu của S gây thương tích, sự việc sau đó được mọi người can ngăn.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 84/KLTTCT- TTPYST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh S, kết luận đối với thương tích của Nguyễn Tấn Q, như sau:
- Các kết quả chính:
+ Sẹo mặt trước đốt xa ngón 1 tay trái, kích thướt nhỏ, không ảnh hưởng chức năng. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%.
+ Sẹo mặt trước đốt gần ngón 2 tay trái, kích thướt nhỏ, đứt gân gấp nông sâu đã được phẩu thuật khâu nối, hạn chế vận ngón 2 tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01% và 05%.
+ Bờ mặt các bờ các vết sẹo trên sắc – gọn.
+ Vết rối loạn sắc tố da hình thẳng vùng bụng. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%.
Kết luận: Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp tâm thần, xác định tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Tấn Q tại thời điểm giám định là: 08%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác:
+ Tổn thương ở ngón 1, 2 tay trái có đặc điểm do vật sắt trực tiếp tác động có chiều hướng từ mặt lòng sang mặt mu, tổn thương vùng bụng có chiều hướng từ trước ra sau.
+ Tổn thương vùng bụng là vùng nguy hiểm đến tính mạng.
+ Tổn thương gây ảnh hưởng đến chức năng ngón 2 tay trái.
Tại Bản cáo trạng số 192/CT-VKSTPST ngày 27/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Huỳnh Thanh S về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng: giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo Huỳnh Thanh S và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự; tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trước khi phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có trình độ học vấn thấp theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và đề nghị áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 03 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao có lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán bằng nhựa màu đen, cả cán và lưỡi dài 33 cm x 4 cm (được niêm phong); 01 (một) cây dao có lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán bằng nhựa màu đen, cả cán và lưỡi dài 22 cm x 3 cm; 01 (một) thanh gỗ bằng tre đã khô được chẽ làm đôi có kích thước 74 cm x 6,5 cm; 01 (một) thanh gỗ bằng tre đã khô được chẽ làm đôi có kích thước 44 cm x 5,5 cm; 05 (năm) mãnh vỡ gạch ống màu nâu (được niêm phong); 01 (một) một bình xịt hơi cay dung tích 110 ml, thân bình màu đen có chữ MADE in USA, P.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu, không đặt ra xem xét.
Về án phí: đề nghị buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
- Bị cáo Huỳnh Thanh S thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận bào chữa và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại Nguyễn Tấn Q, Trương Kiều D không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Huỳnh Thanh S là công dân Việt Nam, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo không mắc bệnh tâm thần hay bệnh nào khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi nên đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Huỳnh Thanh S khai nhận nội dung cáo trạng truy tố phản ánh đúng với hành vi của bị cáo, cụ thể:
Vào khoảng hơn 20 giờ 00 phút, ngày 30 tháng 11 năm 2023, tại khu vực trước nhà số C, đường N, khóm C, phường B thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, chỉ vì mâu thuẫn trong cuộc sống, bị cáo Huỳnh Thanh S đã có hành vi dùng dao dài khoảng 33 cm, cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại màu trắng, là hung khí nguy hiểm chém trúng ngón 1 tay trái, ngón 2 tay trái và vùng bụng của bị hại Nguyễn Tấn Q, gây thương tích qua giám định là 08% và chém trúng vùng mặt phải, vùng căng – cổ tay trái, làm đứt bán phần gân gấp cổ tay trụ của bị hại Trương Kiều D, gây thương tích qua giám định là 20%. Lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định pháp y về thương tích của các bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Xét thấy, hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm chém vào người bị hại Nguyễn Tấn Q gây thương tích qua giám định là 08% và chém trúng vùng mặt phải, vùng căng – cổ tay trái, làm đứt bán phần gân gấp cổ tay trụ của bị hại Trương Kiều D, gây thương tích qua giám định là 20% là thể hiện tính xem thường pháp luật, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của các bị hại trái pháp luật. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Từ đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố để xét xử bị cáo theo tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội và không oan cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có trình độ học vấn thấp nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội với một thời gian nhất định là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo và nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Về xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra đã thu giữ: 01 (một) cây dao có lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán bằng nhựa màu đen, cả cán và lưỡi dài 33 cm x 4 cm (được niêm phong); 01 (một) cây dao có lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán bằng nhựa màu đen, cả cán và lưỡi dài 22 cm x 3 cm; 01 (một) thanh gỗ bằng tre đã khô được chẽ làm đôi có kích thước 74 cm x 6,5 cm; 01 (một) thanh gỗ bằng tre đã khô được chẽ làm đôi có kích thước 44 cm x 5,5 cm; 05 (năm) mãnh vỡ gạch ống màu nâu (được niêm phong); 01 (một) một bình xịt hơi cay dung tích 110 ml, thân bình màu đen có chữ MADE in USA, P. Xét thấy, đây là các công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bị hại bà Trương Kiều D, ông Nguyễn Tấn Q không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm của những người liên quan:
Đối với hành vi của Nguyễn Tấn Q dùng đoạn ống tiếp sắt đánh trúng vào vùng vai của bị cáo Huỳnh Thanh S, nhưng không gây thương tích cho S và không đồng phạm cùng với bị can Trương Đình K nên cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự là có cơ sở.
Đối với Trương Kiều D, khi thấy bị cáo Huỳnh Thanh S cầm dao chém Nguyễn Tấn Q, D xông vào can ngăn, không có tham gia cùng với Trương Đình K đánh S nên cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự là có cơ sở.
Đối với yêu cầu của Huỳnh Thanh S, trong quá trình điều tra, S yêu cầu khởi tố xử lý hình sự đối với hành vi gây thương tích của Trương Đình K đã gây ra cho S. Tuy nhiên, trong giai đoạn truy tố, bị cáo Huỳnh Thanh S rút yêu cầu khởi tố xử lý hình sự đối với hành vi gây thương tích của Trương Đình K và Viện kiểm sát đình chỉ đối với phần yêu cầu của Huỳnh Thanh S không xem xét xử lý hành vi của Trương Đình K nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội, đề nghị mức hình phạt và áp dụng các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/. Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Thanh S, phạm tội Cố ý gây thương tích.
2/. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thanh S 2 (hai) năm tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án hoặc tự nguyện thi hành án.
3/. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao có lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán bằng nhựa màu đen, cả cán và lưỡi dài 33 cm x 4 cm (được niêm phong); 01 (một) cây dao có lưỡi bằng kim loại màu trắng, cán bằng nhựa màu đen, cả cán và lưỡi dài 22 cm x 3 cm; 01 (một) thanh gỗ bằng tre đã khô được chẽ làm đôi có kích thước 74 cm x 6,5 cm; 01 (một) thanh gỗ bằng tre đã khô được chẽ làm đôi có kích thước 44 cm x 5,5 cm; 05 (năm) mãnh vỡ gạch ống màu nâu (được niêm phong); 01 (một) một bình xịt hơi cay dung tích 110 ml, thân bình màu đen có chữ MADE in USA, Police
4/. Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại bà Trương Kiều D, ông Nguyễn Tấn Q không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5/. Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Thanh S phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6/. Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND thành phố Sóc Trăng; - CQCSĐT - Công an thành phố Sóc Trăng; - CQTHAHS – Công an thành phố Sóc Trăng; - Chi cục THA Dân sự thành phố Sóc Trăng; - Bị cáo và những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; TAND TP Sóc Trăng; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Trúc Phương |