vanban.org

Bản án 196/2024/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 07/05/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/05/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của ị cáo Trần Văn N và kháng cáo yêu cầu hủy Bản án hình sự sơ thẩm của à han Thị M đại diện hợp pháp của ị hại, giữ nguyên Quyết định về hình phạt đối với ị cáo Trần Văn N và Quyết định về trách nhiệm dân sự tại Bản án hình sự sơ…

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 591 của Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc ị cáo tiếp tục ồi thư ng cho gia đình ngư i ị hại số tiền còn lại là 54.800.000đ (Ba trăm năm mươi ốn triệu tám trăm nghìn đồng). Đối với số t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn N - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của ị cáo Trần Văn N và kháng cáo yêu cầu hủy Bản án hình sự sơ thẩm của à han Thị M đại diện hợp pháp của ị hại, giữ nguyên Quyết định về hình phạt đối với ị cáo Trần Văn N và Quyết định về trách nhiệm dân sự tại Bản án hình sự sơ…
  • Căn cứ chính? Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 Bộ luật Hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 196/2024/HS-PT
Ngày: 07/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trương Công Thi

Các Thẩm phán:

Ông Vũ Thanh Liêm

Ông Trương Minh Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng kết nối với tại điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 550/2023 TL T- S ngày 27 tháng 10 năm 202 đối với ị cáo Trần Văn N về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của ị cáo và ngư i ị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 108 202 S-ST ngày 19 9 202 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo: Trần Văn N; giới tính: Nam; sinh ngày 12/12/1976, tại tỉnh à Tĩnh; nơi cư trú: thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 02 12; con ông Trần Văn B, sinh năm 1940 và à Trần Thị L, sinh năm 1954, hiện cư trú tại thôn E, xã E, huyện M'Đrăk, tỉnh Đắk Lắk; ị cáo có vợ là Nguyễn Thị , sinh năm 1976, hiện cư trú tại thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; ị cáo có 02 ngư i con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2007 (cháu nhỏ là ngư i khuyết tật đặc iệt nặng); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo ị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 4 202 cho đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Võ Văn 1 – Luật sư, Văn phòng L1; địa chỉ: K L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

Người bị hại: Ông Bùi ồng Q, sinh năm 1977; trú tại: thôn T, xã E, huyện K (đã chết).

Người đại diện hợp pháp cho bị hại (vợ của bị hại) có kháng cáo: Bà Phan Thị M, sinh năm 1978; trú tại: thôn T, xã E, huyện K, có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà han Thị M: Ông Lê Thanh K, ông Đào oàng - Luật sư, Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ; địa chỉ: G Y, phư ng T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Đức D và anh Bùi Đức Đ (là con trai của ị hại Bùi ồng Q), anh D có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, nội dung vụ án được xác định như sau:

Chiều tối ngày 10 4 202 , tại nhà à Thái Thị 2, sinh năm 1981, tại thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk mổ thịt heo chia phần và uống rượu với nhau. Sau khi đã uống rượu say, giữa Trần Văn Đ1, sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã E, huyện K và Bùi ồng Q, sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã E, huyện K thách thức thi nhau múa võ xem ai giỏi hơn, trong lúc múa võ, vật lộn giữa Đ1 và Q có dùng tay đánh trúng vào tay chân của nhau. Khoảng 15 phút sau khi thi nhau múa võ, Đ1 và Q đi vào lại trong nhà và tiếp tục uống rượu và nói chuyện vui vẻ với nhau. Đến khoảng 20 gi 0 phút cùng ngày, sau khi đã uống rượu say, thì mọi ngư i ra về, trong lúc Đ1 leo lên xe mô tô, giơ mũ ảo hiểm lên để đội thì mũ ảo hiểm va trúng ngư i Q nên Q ực tức lao vào giật mũ ảo hiểm đánh trúng 01 phát vào vùng trán của Đ1 thì được mọi ngư i can ngăn.

Lúc này, Trần Văn N, sinh năm 1976, trú tại thôn T, xã E là anh ruột của Đ1 cũng từ trong nhà à H2 đi ra và tiến tới can ngăn thì ị Q dùng mũ ảo hiểm đánh trúng 01 cái vào vai của N (không gây thương tích gì), ực tức Nam giơ tay phải đấm 01 cái vào miệng của Q gây chảy máu, thì giữa Q và N xảy ra cãi nhau thì được chị Nguyễn Thị (vợ của N) can ngăn và đẩy N đi ra cuối vư n nhà à H2 để đi về, còn Q vẫn đứng chửi, thách thức “tao giết cả họ, cả nhà thằng N”. Bực tức vì ị Q thách thức, chửi ới, N liền xô vợ con ra rồi chạy ra khu vực chuồng ò nhà à H2 (cách vị trí xô xát khoảng 0m) nhặt lấy 01 khúc cây cà phê dài hơn 01 mét, đư ng kính 4-5cm, rồi N chạy về phía cổng nhà à H2. Trong lúc này, Đ1, Q và mọi ngư i đang đứng nói chuyện với nhau và chuẩn ị ra về thì N chạy từ phía sau đến, hai tay giơ khúc cây cà phê lên cao đánh mạnh 01 phát theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào vùng đầu của Q làm Q té sấp, phần trán của Q đập mạnh xuống nền sân xi măng rồi ất tỉnh. N cầm theo khúc cây cà phê chạy ngược về phía vư n nhà à H2 rồi vứt đi và về nhà trốn. Còn Bùi ồng Q được Đ1 và những ngư i xung quanh đưa đi cấp cứu nhưng đến ngày 11 4 202 thì tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

iện trư ng nơi tiến hành khám nghiệm là sân nhà à Thái Thị 2, trước nhà có óng điện đủ sáng để khám nghiệm hiện trư ng, thuộc thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. ướng Bắc giáp rẫy nhà ông ồ Anh T; hướng Nam giáp vư n nhà ông Nguyễn Văn Q1; ướng Đông giáp rẫy nhà ông ồ Văn B1; hướng Tây giáp đư ng ê tông thôn T, xã E.

Lấy sân nhà à H2 làm trung tâm có kích thước (1850x1500)cm, nền sân láng ê tông, rào xây gạch và lưới B40. Góc sân hướng T là cổng chính, rộng 90cm, trụ cổng xây tư ng gạch, cánh cổng ằng sắt, sơn xanh. Tại góc sân hướng Đ là lối ra sau vư n, tiếp giáp với sân về hướng Đông Bắc là nhà à H2 có kích thước (1 50x1200x800)cm, nhà xây cấp 4, mái lợp tôn, cửa chính ằng gỗ hướng T. Tiếp giáp với tư ng rào hướng T là ể nước và ếp củi.

Tại vị trí trên sân, cách mặt trước tư ng nhà hướng Tây Nam 510cm phát hiện một số chất dịch rơi nhỏ giọt đã khô màu nâu đỏ, kích thước (46x5)cm, ký hiệu là (1), tâm (1) cách mép trong tư ng rào hướng Đông Nam là 540cm. Cách (1) về hướng T 120cm phát hiện một số chất dịch màu nâu đỏ đã khô, dạng nhỏ giọt, rơi trên mặt sân, kích thước (72x55)cm, ký hiệu là (2), tâm (2) cách mép ngoài ậc thềm tam cấp hướng Đông Bắc là 550cm. Cách (2) về hướng T 400cm phát hiện một số chất dịch màu sẫm không rõ hình dạng, rơi trên mặt sân, kích thước (28x9)cm, ký hiệu ( ), tâm ( ) cách mép trong tư ng rào hướng Tây Nam là 700cm. Cách ( ) về hướng T 410cm, phát hiện một đôi dép da hiệu BQ, màu đen trên mặt sân, ký hiệu là (4), hai chiếc dép để cách nhau 50cm, dép phải cách mép trong rào hướng Tây Nam là 440cm, dép phải cách mép trong rào hướng Tây Nam là 480cm. Cách (4) về hướng T 255cm, phát hiện trên sân có một vùng chất màu nâu đỏ đã cô đặc, không rõ hình dạng, kích thước (79x67), ký hiệu (5). T1 vết (5) về hướng T 16cm phát hiện 01 viên ê tông có kích thước (4x x0,5)cm, có ề mặt không ằng phẳng, dính chất màu nâu đỏ đã khô. Viên ê tông lồi lên so với mặt sân ê tông 0,5cm. Xung quanh vị trí viên ê tông mặt sân không ằng phẳng. Cách tâm (5) về hướng Đ 80cm phát hiện nhiều mảnh vỏ cây cà phê đã khô không xác định được hình dạng, kích thước (90x50)cm.

T1 (5) cách trụ cổng mép ngoài góc hướng T là 210cm, cách mép trong

rào hướng Tây Nam là 480cm (trụ cổng ên phải). Cách (5) về hướng T là 90cm phát hiện một vùng chất dịch màu nâu đỏ đã cô đặc trên sân có kích thước (50x 0)cm, không rõ hình dạng, ký hiệu (6), tâm (6) cách góc ngoài trụ cổng phải hướng T là 170cm, cách mép trong tư ng rào hướng Tây Nam là 400cm.

Cách (1) về hướng Đông Nam 4 0cm phát hiện trên sân có một số chất dịch màu nâu đỏ đã khô rơi nhỏ giọt, kích thước (61x 8)cm, ký hiệu là (7), tâm (7) cách mép trong rào hướng Đông Bắc 00cm, cách mép trong rào hướng Đông Nam 180cm. Cách tâm (7) về hướng Đông Nam 2560cm, tại ãi cỏ, cạnh hố cà phê vư n nhà à H2 phát hiện 01 cây cà phê dài 126cm, đư ng kính đầu to là 07cm, đư ng kính đầu nhỏ là 4cm, ký hiệu (8), cây cà phê đã khô (BL 39-42).

Kết quả khám nghiệm tử thi:

Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:

+ Vùng mặt, cổ: Đồng tử phải giãn 4mm, đồng tử trái giãn 5mm; ầm tím, trầy xước in hằn trên da trán trái, kích thước (4x )cm, xung quanh có nhiều vết in hằn da rải rác, trong diện (9x8)cm; trên cung mày trái 2cm, cách đư ng giữa trán 4cm, ầm tím mi trên mắt trái; trầy xước chéo gò má phải, kích thước ( x0,2)cm, cách dưới đuôi mắt phải 4cm. Trầy xước môi trên ên trái, đư ng kính 0,2cm; ầm tím, trầy xước môi dưới và niêm mạc trong ên trái, kích thước (4x1,5)cm; ầm tím trầy xước vùng lợi trên ên trái, kích thước (1,5x1,5)cm; trầy xước cánh mũi phải, kích thước (0,2x0,1); vết ầm tím vùng giữa đỉnh, trong diện (6,5x5,5)cm, ên trên có vết thương dập rách da hơi chéo đã khâu, hướng từ phải sang trái, dài 4cm, đã khâu ằng chỉ đen. Trầy xước, ầm tím sau tai phải, kích thước (5x4)cm; ầm tím, trầy xước xung quanh và sau tai trái, kích thước (6x8)cm.

+ Vùng ngực, lưng: Trầy xước rải rác hố xương đòn và trên 1 ngoài xương đòn trái, kích thước (6x1)cm; ầm tím ngực phải (trên núm vú phải 2,5)cm), kích thước (4x4)cm; ầm tím ên ngoài núm vú trái, kích thước (7x6)cm; vùng sát cổ phải phía sau trầy xước, ầm tím, kích thước (6x0, )cm; trầy xước, ầm tím in hằn da sau mõm vai trái, kích thước (6,5x6)cm.

+Tứ chi: Bầm tím 1 giữa trước ngoài cánh tay phải, kích thước (2x2)cm; ầm tím dọc 1 giữa sau cẳng tay phải, kích thước (7x2)cm; ầm tím mặt mu khớp ngón àn tay phải, kích thước ( x2)cm; ầm tím trầy xước rải rác 1 dưới ngoài cánh tay trái đến mặt ngoài khuỷu tay trái, kích thước (8x4)cm; trầy xước 1 trên, trong cánh tay trái, kích thước (5x0, )cm; trầy xước 1 trên trước cánh tay trái, kích thước (5x )cm; ầm tím trầy xước nằm ngang 1 dưới trong cánh tay trái, kích thước (4x0,5)cm.

Mổ tử thi:

+ Vùng ngực: Rạch da vùng ngực phải (dưới vết ầm tím) thấy ầm tụ máu dưới da nông (không tới lớp mỡ và cơ); không gãy xương sư n. Chọc dò khoang ngực không có máu.

+ Vùng đầu: Tụ máu lan toả khắp da cơ vùng đầu, từ vùng trán đến vùng chẩm và từ thái dương phải đến thái dương trái, kích thước ( 0x20)cm, ên trái nhiều hơn ên phải. Kiểm tra thấy xương sọ vỡ thành 02 vùng nối liền nhau.

+ Vùng trán thái dương trái: Vỡ thành nhiều đư ng lún xương sọ vùng thái dương trán trái vào trong, trong diện (9x5)cm.

+ Vùng đỉnh trái (giáp vùng chẩm): Vỡ thành nhiều đư ng trong diện (10x5)cn, có mảnh sọ ị ung lên, kích thước (4x )cm ( ên trái cao, ên phải thấp, độ cập kênh 0,4cm). Sát đư ng khớp giữa, tổ chức não phù nhiều, đáy màng cứng phồng lên, màng cứng vùng đỉnh trái rách chéo một đư ng (6,6x2)cm (tương ứng với mảnh sọ ị ung lên), não dập và phù thoát ra khỏi vùng rách. Tụ máu ngoài màng cứng vùng thái dương, kích thước (12x5x0,5) cm, mở màng cứng thấy não phù. Tụ máu nhiều dưới màng cứng vùng trán thái dương đỉnh trái, kích thước (15x14x0,5)cm. Tụ máu dưới màng cứng ít ở vùng đỉnh phải, kích thước ( x2x0,5)cm. Xuất huyết dưới nhện toàn ộ 02 án cầu ( ên trái nhiều hơn ên phải). Dập não thuỳ đỉnh chẩm trái, kích thước (9x x1)cm, xuất huyết trong não thất. Tụ máu trong các rãnh và khe não. Đư ng nứt vỡ ở nền sọ trước kích thước (4x2). Đư ng nứt ở nền sọ giữa, kích thước (4x2,5)cm (BL 50-53).

Tại ản Kết luận giám định tử thi số 2 KLGĐTT- Y ngày 10 5 202 của Trung tâm pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đ kết luận: Nguyên nhân tử vong của Bùi ồng Q là: Suy hô hấp, suy tuần hoàn do chấn thương sọ não nặng (vỡ vòm sọ, nền sọ; tụ máu ngoài và dưới màng cứng; xuất huyết dưới nhện 02 án cầu; xuất huyết các não thất; dập não, phù não…) Nhiều thương tích phần mềm khác (BL 65-67).

Tại ản Kết luận giám định số 517 KL-KT S ngày 05 5 202 của hòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Trên khúc cây cà phê (được thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường) và các que tăm ông (mẫu máu thu tại hiện trường) gửi giám định có máu ngư i và trùng với nhóm máu của Bùi ồng Q.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm s 0 2023 H - T ngày 9 9 2023 của Tòa án nhân dân t nh Đ k L k đ quyết định:

Căn cứ khoản 2 Điều 12 ; điểm , p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên ố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “Giết ngư i”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn N 11 (Mư i một) năm tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày ắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11 4 2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27 9 202 , ị cáo Trần Văn N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 25 9 202 , đại diện hợp pháp của ngư i ị hại có đơn kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt và uộc ị cáo có trách nhiệm ồi thư ng thiệt hại.

Ngày 16 12 202 , các anh Bùi Đức D, anh Bùi Đức Đ là con trai của ị hại ông Bùi ồng Q có đơn đề nghị hủy Bản án sơ thẩm, lý do ỏ sót ngư i tham gia tố tụng.

Tại phiên toà phúc thẩm ị cáo giữ nguyên kháng cáo, đại diện hợp pháp của ị hại yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm.

Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa phát iểu quan điểm đối với vụ án như sau:

- Về tố tụng, ội đồng xét xử, những ngư i tiến hành và tham gia tố tụng khác đã thực hiện và tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Về nội dung, sau khi phân tích nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề nghị ội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ị cáo cũng như kháng cáo của đại diện hợp pháp của ị hại, giữ nguyên Quyết định về hình phạt và trách nhiệm ồi thư ng dân sự tại Bản án hình sự sơ thẩm.

Ngư i ào chữa cho ị cáo Luật sư Võ Văn 1 đề nghị ội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ị cáo, giảm nhẹ cho ị cáo một phần hình phạt. Bị cáo thống nhất theo luận cứ ào chữa và đề nghị của Luật sư Võ Văn 1.

Ngư i ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đại diện hợp pháp của ị hại cho rằng Bản án sơ thẩm có vi phạm thủ tục tố tụng và áp dụng pháp luật không đúng, đề nghị hủy Bản án sơ thẩm.

Sau khi tranh luận Kiểm sát viên, luật sư và những như i ảo vệ giữ nguyên quan điểm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được xem xét và kết quả tranh tụng. Xem xét kháng cáo của ị cáo và đại diện hợp pháp của ị hại và đề nghị của các anh Bùi Đức D, anh Bùi Đức Đ, ội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

Theo như đơn đề nghị của của các anh Bùi Đức D, anh Bùi Đức Đ, kháng cáo của à han Thị M và đề nghị của những ngư i ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ị hại, qua kết quả kiểm tra tại phiên tòa phúc thẩm, cho thấy, anh D và anh Đ là con trai của ị hại Bùi ồng Q, nhưng quá trình điều tra Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đều không đưa anh D và anh Đ vào tham gia tố tụng là thiếu sót, chưa đúng quy định tại Điều 62 Bộ luật tố tụng hình sự, à M, anh D và anh Định đề n hủy Bản án sơ thẩm. Tuy nhiên xét thấy, trong vụ án đã xác định à han Thị M là vợ của ị hại, làm ngư i đại diện hợp pháp cho ị hại, các yêu cầu của à M đã được các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét theo đúng quy định của pháp luật, khoản tiền ù đắp tổn thất tinh thần đã được Tòa án cấp sơ thẩm uộc ị cáo ồi thư ng ở mức tối đa, đề nghị của các anh Bùi Đức D và anh Bùi Đức Đ trùng hợp với kháng cáo của à M. Vì vậy, vi phạm nói trên không gây thiệt hại và ảnh hưởng gì đến quyền lợi của anh D và anh Đ, nên ội đồng xét xử cấp phúc thẩm yêu cầu Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk rút kinh nghiệm trong hoạt động tố tụng.

. Tại giai đoạn phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm, ội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, kháng cáo của ị cáo, đại diện hợp pháp của ị hại là hợp lệ, trong th i hạn luật định, do vậy, ội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

. Về nội dung:

. Xem xét tính chất hành vi và hậu quả phạm tội của ị cáo, ội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, ị cáo đã khai nhận về hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xác định, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 20 gi 0 phút ngày 10 4 202 , tại sân nhà à Thái Thị 2 tại thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, xuất phát từ mâu thuẫn trong quá trình uống rượu giữa Trần Văn Đ1 với Bùi ồng Q, sau đó, Q và Đ1 đánh nhau, thấy vậy, ị cáo Trần Văn N can ngăn nhưng đã ị Bùi ồng Q dùng mũ ảo hiểm đánh vào vai ị cáo, ị cáo N dùng tay đấm lại vào miệng Q, mặc dù được mọi ngư i can ngăn, nhưng Q vẫn đứng chửi ới và dùng l i lẽ khiêu khích đe dọa giết cả nhà Trần Văn N nên ị cáo Trần Văn N đã dùng 01 cây gỗ cà phê, dài 126cm, đư ng kính đầu to là 07 cm, đầu nhỏ là 04 cm, dùng hai tay đánh mạnh 01 cái từ trên xuống trúng vào đầu của anh Bùi ồng Q làm anh Q té ngã sấp xuống nền sân xi măng, gây chấn thương sọ não dẫn đến tử vong. Với tính chất hành vi và hậu quả phạm tội nêu trên, tại Bản án sơ thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 12 ; điểm , p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt ị cáo Trần Văn N 11 (Mư i một) năm tù tội “Giết người”. Về trách nhiệm dân sự đã áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 591 của Bộ luật dân sự năm 2015, uộc ị cáo tiếp tục ồi thư ng cho gia đình ngư i ị hại số tiền còn lại là 54.800.000đ (Ba trăm năm mươi bốn triệu tám trăm nghìn đồng).

Xem xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của ị cáo Trần Văn N ội đồng xét xử xét thấy: Theo như Bản án sơ thẩm đã nhận định, xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cho thấy, giữa ị cáo Trần Văn N với ị hại anh Bùi ồng Q không có mâu thuẫn gì trước đó, vào ngày 10 4 202 , sau khi hai ên đã có sử dụng ia rượu thì đã phát sinh mâu thuẫn, qua diễn iến vụ án cho thấy lúc đầu là giữa ị hại Bùi ồng Q với anh Trần Văn Đ1 có sự xích mích, nguyên nhân do lúc Đ1 leo lên xe mô tô, giơ mũ ảo hiểm lên để đội thì mũ va trúng ngư i Q, Q giật mũ ảo hiểm đánh lại vào trán của Đ1, hai ên cãi vã nhau, mọi ngư i và ị cáo N thấy thế ra can ngăn, nhưng Q đã dùng mũ ảo hiểm đánh vào vai của N, N đấm lại vào miệng của Q, tuy đã được mọi ngư i can ngăn nhưng Q lại tiếp tục chửi ới và có l i lẽ đe dọa N, N đã lấy một khúc gỗ (cây cà phê) chạy đến đánh mạnh vào đầu của ị hại Q, làm Q ngã xuống nền nhà cứng gây chấn thương sọ não dẫn đến hậu quả anh Q tử vong, với quá trình, điều kiện và nguyên nhân xảy ra vụ án như trên tại Bản án sơ thẩm đã xác định ngư i ị hại Bùi ồng Q cũng có phần lỗi nên đã áp dụng khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự để xét xử ị cáo Trần Văn N tội “Giết người” là có căn cứ pháp luật. Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt ị cáo Trần Văn N mức hình phạt 11 năm tù là tương xứng, tại phiên tòa phúc thẩm tuy ị cáo có tác động gia đình nộp thêm 20.000.000 đồng ồi thư ng và nộp án phí sơ thẩm nhưng với tính chất, hậu quả của vụ án và mức án đã tuyên là phù hợp do vậy, ội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo yêu cầu giảm hình phạt của ị cáo.

[ ]. Xem xét kháng cáo của à han Thị M đại diện hợp pháp của ị hại, xét thấy: Sau khi xét xử sơ thẩm, à M kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt và giải quyết phần trách nhiệm dân sự, tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm à M thay đổi nội dung kháng cáo, yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm, ội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[ .1]. Về áp dụng pháp luật hình sự: Trong quá trình xảy ra vụ án cũng như xem xét nguyên nhân, điều kiện, yếu tố lỗi của ị cáo, ị hại đã xác định anh Bùi ồng Q có một phần lỗi như đã phân tích nêu trên, nên tại Bản án sơ thẩm đã xác định ngư i ị hại Bùi ồng Q cũng có phần lỗi, góp phần xảy ra vụ án, do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự để xét xử ị cáo ị cáo Trần Văn N tội “Giết người” là đúng pháp luật. Mặc khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm, tuy ị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại phiên tòa phúc thẩm ị cáo N cũng đã nộp thêm tiền ồi thư ng là tình tiết giảm nhẹ mới, nhưng xét Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 2 Điều 12 ; điểm , p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt ị cáo Trần Văn N mức hình phạt 11 năm tù sát với mức khởi điểm quy định tại khoản 1 Điều 12 Bộ luật hình sự.

[ .2]. Về áp dụng pháp luật dân sự xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án hình sự căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự trên cơ sở yêu cầu của đại diện hợp pháp của ị hại, tại đơn yêu cầu ồi thư ng ngày 1 6 202 và tại phiên tòa sơ thẩm cụ thể: à han Thị M yêu cầu ị cáo ồi thư ng các khoản sau: Tiền cấp dưỡng nuôi con của ị hại (7-18 tuổi), tổng số tiền là 425.000.000đ; tiền tổn thất tinh thần 180.000.000đ (tương ứng 100 tháng lương cơ sở) và tiền thu nhập thực tế ị mất của ngư i ị hại: 4.500.000.000đ.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các hóa đơn, chứng từ có trong hồ sơ vụ án, áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 591 của Bộ luật dân sự năm 2015 quyết định về trách nhiệm ồi thư ng thiệt hại đối với ị cáo Trần Văn N như sau: Tiền viện phí 2.700.000đ; chi phí mai táng 6.500.000đ; tiền thuê xe chở nạn nhân đi và về 2.000.000đ; tiền trợ cấp nuôi con của ị hại tới tuổi trưởng thành, mỗi tháng 2.000.000đ (11 năm) 264.000.000đ (do không có sự thỏa thuận nên uộc trợ cấp hàng tháng); tiền ồi thư ng về tổn thất tinh thần (100 tháng lương cơ sở) 180.000.000đ. Tổng cộng uộc ị cáo ồi thư ng cho gia đình ị hại là 485.200.000đ, gia đình ị cáo đã ồi thư ng số tiền 1 0.400.000đ, tiếp tục uộc ồi thư ng cho gia đình ị hại số tiền còn lại là 54.800.000đ. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng và giải quyết phần ồi thư ng thiệt hại đúng quy định của pháp luật, việc à M yêu cầu tiền ồi thư ng thu nhập thực tế ị mất của ngư i ị hại số tiền 4.500.000.000đ là không có hóa đơn chứng từ cũng như căn cứ pháp luật để xem xét.

[ . ]. Về tố tụng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện và áp dụng đúng các quy định của pháp luật, việc vi phạm tố tụng trong vụ án như Tòa án cấp phúc thẩm đã nhận định tại mục [1.1], không ảnh hưởng gì đến quyền và lợi ích hợp pháp của à M cũng như anh D và anh Đ.

Từ những nhận định nêu trên, ội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm của à han Thị M.

. Đối với các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng và án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, ội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ị cáo Trần Văn N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật, à han Thị M không phải chịu án phí.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1, Điều 55; Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của ị cáo Trần Văn N và kháng cáo yêu cầu hủy Bản án hình sự sơ thẩm của à han Thị M đại diện hợp pháp của ị hại, giữ nguyên Quyết định về hình phạt đối với ị cáo Trần Văn N và Quyết định về trách nhiệm dân sự tại Bản án hình sự sơ thẩm số 108/2023/HS-ST ngày 19 9 202 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Áp dụng khoản 2 Điều 12 ; điểm , p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn N 11 (Mười một) năm tù về tội “Giết người”. Th i hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 11 4 202 .

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 591 của Bộ luật dân sự năm 2015. Buộc ị cáo tiếp tục ồi thư ng cho gia đình ngư i ị hại số tiền còn lại là 54.800.000đ (Ba trăm năm mươi ốn triệu tám trăm nghìn đồng). Đối với số tiền 20.000.00đ ( ai mươi triệu đồng) nộp theo iên lai số 0000789 ngày 0 4 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk được trừ lại trong quá trình thi hành án.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngư i được thi hành án cho đến khi thi hành án xong ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 57, Điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 26 2016 NQ-UBTVQ 14 ngày 0 12 2016 của Ủy an Thư ng vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, ị cáo Trần Văn N phải chịu 200.000 đồng, tiền án phí hình sự phúc thẩm. Bà han Thị M không phải chịu án phí phúc thẩm.

4. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng và án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ