vanban.org

Bản án 196/2024/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 22/04/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/04/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 154 2023 DS-ST ng y 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân th nh phố Cao ãnh.

Về án phí dân sự sơ thẩm v các khoản lệ phí, chi phí tố tụng khác sẽ được giải quyết lại trong quá trình xét xử sơ thẩm. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ho n trả lại cho b Trần Thị Ánh T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, theo biên lai thu số 0007031 ng y 12 10 2023 của Chi cục Thi h nh …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp ranh giới QSDĐ"
  • Tòa quyết gì? Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 154 2023 DS-ST ng y 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân th nh phố Cao ãnh.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 52 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 196/2024/DS-PT
Ngày 22 tháng 4 năm 2024
“V/v Tranh chấp ranh giới QSDĐ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Quang Thông

- Các Thẩm phán:

Ông Huỳnh Thanh Mỹ

Ông Đinh Chí Tâm

- Thư ký phiên tòa: B Nguyễn Thị Kiều Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30/01/2024, 26/3/2024 và 22/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 474/2023 T PT-DS ng y 06 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 154/2023/DS-ST ng y 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân th nh phố Cao Lãnh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 32/2024 QĐ-PT ngày 08 tháng 01 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 56 2024 QĐ-PT ngày 30/01/2024, Thông báo về việc mở lại phiên tòa xét xử vụ án số 45 TB-TA ng y 27 02 2024 v Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 62 2024 QĐPT-DS ngày 26 3 2024 của Tòa án tỉnh Đồng Tháp giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: B ương Tỷ P1, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Số nh 23, đường Hai B Trưng, Phường H, th nh phố Cao ãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Chị Trần Thị Ánh T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Tổ 3, ấp 1, xã Mỹ Tr , th nh phố Cao ãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Trần Thị Ánh T: Ông Trần Huỳnh V1, sinh năm 1986; Địa chỉ: Tổ 4, khóm 1, Phường 11, th nh phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ng y 06 11 2023).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh ê Minh Ho ng, sinh năm 1982;

2. Chị Nguyễn Thị Thanh C5, sinh năm 1983.

Cùng địa chỉ: Số nh 23, đường Hai B Trưng, Phường H, th nh phố Cao ãnh, tỉnh Đồng Tháp.

(Các đương sự có mặt đầy đủ tại phiên tòa).

Người kháng cáo: Chị Trần Thị Ánh T l bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa bà Lương Tỷ P1 trình bày:

Nguồn gốc đất do b P1 nhận chuyển nhượng của b Nguyễn Thanh Thiên H3 v o khoảng năm 2004 với diện tích 223,6m2, thuộc thửa 1924, tờ bản đồ 29, loại đất cây lâu năm. Giá chuyển nhượng l 45.000.000 đồng, b P1 đã giao đủ tiền cho bà H3, bà H3 đã giao đất v sang tên quyền sử dụng đất cho bà P1 v o năm 2004. Khi chuyển nhượng có đo đạc đủ diện tích. úc bấy giờ người giáp ranh l ông ương Thanh V1 (hiện nay do ông Phạm Ngọc Huỳnh giáp ranh) và người giáp ranh l ông Trần Văn T1 (hiện nay l b Nguyễn Thị iên Đ i v b Trần Thị Ánh T giáp ranh).

Sau khi nhận chuyển nhượng đất của b H3 đến nay thì b P1 chưa sử dụng để xây dựng công trình, nh ở nên phần đất vẫn còn để trống.

Ngày 19/10/2021 bà P1 xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1924, tờ bản đồ số 29, diện tích 223,6m2, đất tọa lạc tại xã Mỹ Tr , th nh phố Cao ãnh (khi cấp đổi không có đo đạc nhưng chưa phát sinh tranh chấp). Sau khi bà P1 cấp đổi giấy đất xong thì phía bà T có tiến h nh xây dựng công trình nh trọ. Nhưng phần đất của b P1 lại giáp ranh với thửa đất số 6542, tờ bản đồ số 29, diện tích 190,5m2, tọa lạc tại xã Mỹ Tr , th nh phố Cao ãnh do b Trần Thị Ánh T (được thừa kế đất từ ông T1) đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Phần đất của b T đã được xây dựng nh trọ. Tuy nhiên, khi tiến h nh thi công xây dựng thì bà T không thông báo cho bà P1 biết v không tiến h nh đo đạc thống nhất ranh giới với b P1. Khi bà T đang xây dựng thì bà P1 có đến phần đất v phát hiện phần nh trọ của b T đang xây dựng đã lấn chiếm sang phần đất của b P1.

Thời điểm đó, b P1 đã yêu cầu b T dừng thi công để tiến h nh đo đạc lại nhưng b T không đồng ý v nói nếu sau n y đo đạc lại m nh b T có lấn sang đất của b P1 thì bà T sẽ tự tháo dỡ, di dời t i sản của b T khỏi đất của b P1. Do đó, b P1 đã gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã yêu cầu giải quyết nhưng kết quả không th nh.

Nay, hộ b P1 yêu cầu b T di dời to n bộ t i sản để trả diện tích lấn chiếm theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai th nh phố Cao ãnh tại vị trí các mốc A, B, D, C về mốc A có diện tích 20,3m2, phần đất n y hộ b P1 xác định nằm trong thửa 1924, tờ bản đồ số 29. Hộ b P1 tự nguyện hỗ trợ chi phí di dời cho b T số tiền l 10.000.000 đồng.

Bà P1 đồng ý diện tích, vị trí mốc theo sơ đồ đo đạc, thống nhất giá theo giá của Hội đồng định giá.

Bà P1 không thống nhất nhận giá trị đất, nếu nhận giá trị đất thì phần đất của b P1 không còn giá trị sử dụng được.

- Bị đơn bà Trần Thị Ánh T có người đại diện theo ủy quyền là ông Trần Huỳnh V1 trình bày:

Nguồn gốc đất l của cha b T tên Trần Văn T1 (chết năm 2009), mẹ l Nguyễn Kim Ho ng khai mở từ khoảng năm 1985. Cụ T1 được cấp quyền sử dụng đất năm n o thì không nhớ, nhưng sau khi cụ T1 chết thì b T l m thủ tục thừa kế gồm thửa 6542, tờ bản đồ số 29, diện tích 190,5m2, đất cây lâu năm; thửa 6541, tờ bản đồ 29, diện tích 100m2 đất ở; thửa 6540, tờ bản đồ 29, diện tích 135,8m2, đất cây lâu năm v một phần chưa đăng ký quyền sử dụng đất.

Bà T xác định theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai th nh phố Cao ãnh tại vị trí các mốc A, B, D, C về mốc A có diện tích 20,3m2 l phần đất của b T chưa đăng ký quyền sử dụng đất.

Khoảng năm 2021 do bà T xây dựng nh trọ tạm, không kiên cố nên không xin phép xây dựng. Khi xây dựng bà P1 có mặt và kéo đo phần đất của bà P1 nhưng không có tranh chấp. Tuy nhiên, sau đó khoảng 01 tháng thì Uỷ ban nhân dân xã có gửi giấy mời để hòa giải phần đất tranh chấp của hộ bà P1.

Nay bà T không thống nhất yêu cầu khởi kiện của hộ bà P1. Bà T yêu cầu Tòa án công nhận cho bà T được đứng tên quyền sử dụng đất tại vị trí các mốc A, B, D, C về mốc A có diện tích 20,3m2 l phần đất bà T chưa đăng ký quyền sử dụng đất. Không yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo công văn của Chi nhánh trả lời cho hộ bà P1 được đứng tên quyền sử dụng.

Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của hộ b P1 thì thì bà T tự di dời phần tường đã xây trên phần đất tranh chấp. B T không yêu cầu b P1 hỗ trợ chi phí di dời. Đối với phần tự nguyện hỗ trợ chi phí di dời của b P1 10.000.000 đồng thì b T không nhận. Ngo i ra, không yêu cầu gì thêm.

Về diện tích đo đạc của sơ đồ b T không có ý kiến, thống nhất theo giá của hội đồng định giá.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Minh H2, bà Nguyễn Thị Thanh C5 trình bày:

Thống nhất theo lời trình b y v yêu cầu của b ương Tỷ P1.

Tại quy t đ nh của bản án dân sự sơ thẩm số 154/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của hộ b ương Tỷ P1 đối với b Trần Thị Ánh T.

- Buộc b Trần Thị Ánh T di dời to n bộ t i sản, vật kiến trúc trên diện tích đất 20,3m2, thuộc một phần thửa 1924, tờ bản đồ số 29, tại các mốc mốc D, B, A, C về mốc D; Đất tọa lạc tại xã Mỹ Tr , th nh phố Cao ãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Ranh đất được xác định giữa hộ b ương Tỷ P1 v b Trần Thị Ánh T tại thửa 1924 v thửa 6542, tờ bản đồ số 29 tọa lạc tại xã Mỹ Tr , th nh phố Cao ãnh, tỉnh Đồng Tháp l từ mốc D, C, A. Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian, t i sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp luật.

- Hộ b ương Tỷ P1 đến cơ quan Nh nước có thẩm quyền để đăng ký v điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích đất đo đạc thực tế theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai th nh phố Cao Lãnh ngày 22/02/2023 v chịu các khoản thu theo quy định pháp luật (nếu có).

(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án ng y 22/02 2023 v sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai th nh phố Cao ãnh ng y 22 02 2023).

- Về án phí dân sự sơ thẩm: B ương Tỷ P1 được nhận lại 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011737 ng y 11 11 2022 của Chi cục thi h nh án dân sự th nh phố Cao ãnh, tỉnh Đồng Tháp.

B Trần Thị Ánh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí l 6.066.000 đồng do b P1 đã tạm ứng v chi xong. Bà T có trách nhiệm trả lại cho b P1 số tiền n y.

Ngo i ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo, quyền v nghĩa vụ, thời hiệu thi h nh án của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 12/10/2023, b Trần Thị Ánh T là bị đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại to n bộ nội dung vụ án để đảm bảo quyền v lợi ích hợp pháp của bà T. Sửa to n bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của b ương Tỷ P1 và xem xét công nhận phần đất tranh chấp cho bà T. Bởi vì phần đất b T xây dựng nh trọ l của gia đình bà T quản lý, sử dụng từ năm 1974 cho đến nay.

- Tại phi n

phúc h :

Nguyên đơn b ương Tỷ P1 trình bày: Vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, buộc bà T tháo dở, di dời to n bộ t i sản để trả diện tích lấn chiếm theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai th nh phố Cao ãnh tại vị trí các mốc A, B, D, C về mốc A có diện tích 20,3m2. Hộ b P1 tự nguyện hỗ trợ chi phí di dời cho b T số tiền l 10.000.000 đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn l anh Trần Huỳnh V1 trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bà T yêu cầu Tòa án công nhận cho bà T được đứng tên quyền sử dụng đất tại vị trí các mốc A, B, D, C về mốc A có diện tích 20,3m2 đây l phần đất bà T chưa đăng ký. Ngo i ra trên phần đất tranh chấp có dãy phòng trọ hiện có anh H7 và bà H2 l em ruột v mẹ của b T đang ở 02 phòng cuối, đây l t i sản của người có quyền lợi liên quan, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của b P1.

- Đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử đã tiến h nh phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Các đương sự trong vụ án đã thực hiện đúng quyền v nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tại giai đoạn cấp phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn l anh Trần Huỳnh V1 cho rằng diện tích 20.3m2 m bản án sơ thẩm tuyên buộc b T tháo dở, di dời trả đất lại cho b P1 là dính vào 02 phòng ở của b Nguyễn Kim H2 v anh Trần Hoàng H7 là mẹ v em ruột chị T. Qua l m việc thì b H2 và anh H7 cho rằng có bỏ tiền ra xây dựng 02 căn phòng trên để ở, b H2 l người tu tại gia, nên không đồng ý tháo dở, di dời. Đây l tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm m cấp sơ thẩm chưa l m rõ, nên đã không đưa b H2 và anh H7 v o tham gia tố tụng trong vụ án l thiếu xót, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự m cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ v o khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, hủy bản án sơ thẩm v chuyển hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các t i liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa v căn cứ v o kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến trình b y của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà T còn trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận.

Về nội dung: B Trần Thị Ánh T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm công nhận cho bà T được đứng tên quyền sử dụng đất tại vị trí các mốc A, B, D, C về mốc A có diện tích 20,3m2, phần đất bà T xây dựng nh l của gia đình bà T quản lý, sử dụng từ năm 1974 cho đến nay nhưng chưa đăng ký.

Hội đồng xét xử xét thấy: Nguồn gốc đất là do bà P1 nhận chuyển nhượng của b Nguyễn Thanh Thiên H3 v o khoảng năm 2004 với diện tích 223,6m2, thuộc thửa 1924, tờ bản đồ 29, loại đất cây lâu năm. Giá chuyển nhượng l 45.000.000 đồng. Bà P1 đã giao đủ tiền, b H3 đã giao đất v sang tên quyền sử dụng đất cho bà P1 v o năm 2004. Khi chuyển nhượng có đo đạc đủ diện tích, có người giáp ranh l ông ương Thanh V1 (hiện nay do ông Phạm Ngọc Huỳnh giáp ranh) v người giáp ranh l ông Trần Văn T1 (hiện nay l b Nguyễn Thị iên Đ i v b Trần Thị Ánh T giáp ranh) chứng kiến. Theo hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo tọa độ lưới của hộ b ương Tỷ P1 vào năm 2005 đã thể hiện có chữ ký giáp ranh của ông Trần Văn T1 l người giáp ranh với thửa đất của hộ b P1. Ông T1 đã ký xác nhận thống nhất ranh với hộ b P1 (ông T1 l cha ruột b T), phần đất hộ b P1 được cấp diện tích 223,6m2. Tuy nhiên sau khi tiến h nh xem xét thẩm định tại chổ thì diện tích thực tế được thể hiện qua sơ đồ đo đạc hiện nay l 203,5m2, đã tính luôn phần diện tích đang tranh chấp l 20,3m2, nếu trừ lại phần đất tranh chấp thì phần đất hộ b P1 không đủ diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cũng như không phù hợp với hiện trạng tại thời điểm ông T1 đã ký giáp ranh với đất hộ b P1 là 4,5m.

Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của b T được cấp năm 2021 thì 03 thửa đất với tổng diện tích l 426,3m2 (135,8m2 + 100m2 + 190,5m2) gồm thửa 6540, 6541, 6542 nhưng thực tế đo đạc 03 thửa đất nêu trên theo sơ đồ đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai th nh phố Cao ãnh ng y 22 02 2023 có diện tích 516m2, tại các mốc X, F, E, D, C, A, 10, 11 về mốc X (chưa tính diện tích tranh chấp). Như vậy, diện tích hiện tại b T sử dụng đã dư 89,7m2. Trong khi bà P1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất l 223,6m2, thửa 1924 nhưng đo đạc thực tế l 183,2m2 (chưa tính phần đất tranh chấp). Nếu tính luôn phần đất tranh chấp do hộ b P1 xác định thì diện tích hiện tại của b P1 là 203,5m2, vẫn còn thiếu 20,1m2 so với diện tích được cấp theo tọa độ lưới.

Ngo i ra, theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho b T từ năm 2013 đến nay thể hiện bà T được thừa kế quyền sử dụng đất từ ông T1 và đã nhiều lần xin đổi giấy, sửa sai, điều chỉnh lại diện tích qua các năm 2016, năm 2017 v cho đến năm 2021 bà T lại tiếp tục xin đổi giấy như vậy việc bà T cho rằng phần đất đang tranh chấp của b T chưa đăng ký quyền sử dụng đất l không phù hợp với t i liệu chứng cứ đã thể hiện tại hồ sơ vụ án.

Trên phần đất tranh chấp có phần tường nh trọ do b T xây dựng, việc xây dựng này không được cơ quan có thẩm quyền cấp phép. Đồng thời, căn cứ v o Công văn phúc đáp của Ủy ban nhân dân th nh phố Cao ãnh thì vị trí thửa đất số 1924, 6542, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã Mỹ Tr thuộc quy hoạch chức năng đất ở mới, không phù hợp quy hoạch đất ở hiện trạng giữ lại (Không được chuyển mục đích sang đất ở theo Khoản 1 Điều 52 luật đất đai năm 2013). Do đó, hộ b P1 yêu cầu buộc b T phải di dời to n bộ t i sản trên phần đất lấn chiếm ranh có diện tích 20,3m2, tại các mốc D, B, A, C về mốc D l phù hợp.

Cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của bà P1 buộc b T phải di dời t i sản trên diện tích 20,3m2 để trả lại cho b P1, tuy nhiên trên diện tích 20,3m2 qua biên bản v sơ đồ xem xét thẩm định có 06 phòng trọ ngang 4m, d i 7m xây bằng bê tông nếu di dời phải đập vách phòng đầu tiên l 1tất lớn dần đến phòng thứ 5 v 6 l 1,7m.

Trong 06 phòng trọ, thì 04 phòng đầu cho 04 người thuê tháng gồm các ông (bà) Nguyễn Phú Kinh, Phạm Thị Thu Em, Dương văn Công, Tô Thị Đậm (qua làm việc ở cấp phúc thẩm những người này có ý ki n n u đập vách tường thì họ tự nguyện di dời và thuê chỗ khác ở, không có yêu cầu gì). Riêng 02 phòng còn lại l 02 phòng cuối, thì khi bà T xây dựng dãy phòng trọ, anh Trần Hoàng H7 l em ruột của b T đã hùn 50.000.000đ, còn bà Nguyễn Kim H2 là mẹ của chị T thì hùn 100.000.000đ để xây dựng v ở cố định (Do năm 2019 b H2 đã bán căn nh củ chỗ khác nên đã hùn tiền với bà T để xây dựng phòng ở đến nay). Hiện tại bà H2 đang tu tại gia phía trong nh thời cúng nhiều tượng phật.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà Nguyễn Kim H2 và anh Trần Ho ng H7 có mặt trình bày: Số tiền mà bà H2 và anh H7 hùn vào để xây dựng phòng ở l 150.000.000 đồng, mục đích xây dựng l để ở cố định. Bà H2, anh H7 cương quyết không thống nhất cho đập vách tường vì không còn chỗ ở n o khác và cho rằng cấp sơ thẩm giải quyết b H2 và anh H7 không được tham gia trong vụ án n y l l m ảnh hưởng đến quyền lợi của b H2 và anh H7.

Xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa bà Nguyễn Kim H2, anh Trần Hoàng H7 v những người thuê ở trọ tháng v o tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách l người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là thiếu tư cách đương sự, dẫn đến vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng m cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, vì vậy Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm số 154 2023 DS-ST ng y 29 9 2023 của Tòa án nhân dân th nh phố Cao ãnh, tỉnh Đồng Tháp và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền lợi của các đương sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm đề nghị hủy bản án sơ thẩm l có căn cứ chấp nhận. Do bản án sơ thẩm bị hủy nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét đối với kháng cáo của b Trần Thị Ánh T.

Về án phí dân sự sơ thẩm v các khoản lệ phí, chi phí tố tụng khác sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.

Về án phí phúc thẩm b Trần Thị Ánh T được nhận lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai của Chi cục Thi h nh án dân sự th nh phố Cao Lãnh.

Vì các lẽ trên;

U T ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 154 2023 DS-ST ng y 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân th nh phố Cao ãnh. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân th nh phố Cao ãnh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Về án phí dân sự sơ thẩm v các khoản lệ phí, chi phí tố tụng khác sẽ được giải quyết lại trong quá trình xét xử sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ho n trả lại cho b Trần Thị Ánh T 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, theo biên lai thu số 0007031 ng y 12 10 2023 của Chi cục Thi h nh án dân sự th nh phố Cao ãnh.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi h nh kể từ ng y tuyên án.

Cỡ chữ