- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Trưởng - CYGTT - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 196/2023/HSST Ngày: 13-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Nhung
2. Ông Nguyễn Tiến Dũng
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 186/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1986; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi sinh: Tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm Th, thôn A, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 7/12; con ông: Nguyễn Văn L, sinh năm 1959 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; gia đình có 03 anh em bị cáo là con thứ ba; chung sống như vợ chồng với chị Vũ Thị H và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 16-7-2008 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 03-7-2019 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị bắt giữ từ ngày 22-6-2023 đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố N; (Có mặt).
- Bị hại: Ông Đỗ Văn Th, sinh năm 1954; nơi cư trú: Số 14 tầng 5 khu 5 tầng đường Tr, thành phố N, tỉnh Nam Định (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Tr làm nghề dán đề can và đóng khung biển số xe thuê cho chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1981, trú tại: Số 9/7/197 đường Tr, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định tại kiốt số 01 Tổ dân phố số 01 đường Tr, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định nên xảy ra mâu thuẫn với ông Đỗ Văn Th làm nghề dán đề can và đóng khung biển số xe tại kiốt số 2 ngay bên cạnh.
Khoảng 10 giờ ngày 21-6-2023, ông Th đi sang gặp Tr để nói chuyện nên xảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau, rồi dùng tay đấm nhau ngay tại vỉa hè trước cửa kiốt số 01. Ông Th chạy vào kiốt số 02 lấy một tuýp sắt dài khoảng 80cm, đường kính khoảng 02cm cầm trên tay phải để đánh nhau với Tr. Tr cũng chạy vào trong kiốt số 01 lấy một chiếc búa đầu bằng kim loại, cán bằng gỗ dài khoảng 25cm cầm trên tay phải và một chiếc tô vít bằng kim loại dài khoảng 13cm cầm trên tay trái để đánh nhau với ông Th. Hai người chạy ra vỉa hè trước cửa kiốt số 01 để tiếp tục đánh nhau. Thấy ông Th cầm tuýp sắt lao đến Tr vất tô vít xuống và chuyển cầm búa sang tay trái, tay phải Tr nhặt một chiếc ghế nhựa dạng ghế tựa kích thước (25x30x63)cm ném trúng người ông Th nhưng không gây thương tích gì. Sau đó Tr chuyển búa sang cầm ở tay phải là tay thuận của mình để đánh nhau. Ông Th và Tr đứng đối diện, cách nhau khoảng 50cm. Ông Th cầm tuýp sắt vụt một cái về phía người Tr nên Tr giơ tay trái lên đỡ thì bị tuýp sắt vụt trúng cổ tay gây sưng nề. Tr cầm búa trên tay phải đập 03 cái về phía người ông Th trong đó có một cái trúng vùng trán trái của ông Th gây thương tích rách da chảy máu. Lúc này chị Trần Thị Thu H chạy đến can ngăn. Ông Trần Quang T, sinh năm 1973, trú tại 14B Bắc Tr, phường C, thành phố N là hàng xóm cầm một chiếc điếu cày được bọc bằng kim loại sáng màu, dài khoảng 50cm chạy đến giơ lên đe dọa để ngăn cản không cho Tr tiếp tục đánh ông Th nữa nên Tr đã cầm theo chiếc búa bỏ đi. Hậu quả: ông Đỗ Văn Th bị 01 vết thương vùng trán trái dài 04cm; Nguyễn Văn Tr bị sưng nề cổ tay trái.
Khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày Nguyễn Văn Tr đã đến cơ quan công an đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và giao nộp chiếc búa sử dụng để đánh gây thương tích cho ông Th.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 234/KLTTCT-TTPY ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Hà Nam, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của ông Đỗ Văn Th là 03%. Cơ chế hình thành vết thương: Do vật có cạnh tác động trực tiếp gây nên.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 235/KLTTCT-TTPY ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Hà Nam, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Nguyễn Văn Tr là: Không xếp tỷ lệ tổn thương cơ thể. Cơ chế hình thành vết thương: Do tác động với vật tày gây nên.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định bổ sung thương tích của ông Th. Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 266/KLTTCT-TTPY ngày 13 tháng 7 năm 2023 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Hà Nam, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của ông Đỗ Văn Th là 03%. Cơ chế hình thành vết thương: Do vật có cạnh tác động trực tiếp gây nên.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với đoạn Video clip thu giữ được ghi lại nội dung vụ việc. Bản kết luận giám định số 1115/KL-KTHS ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định.
Vật chứng thu giữ: 01 chiếc ghế nhựa dạng ghế tựa kích thước (25x30x63)cm, bị gãy 01 chân ghế phía sau bên trái, 01 chiếc tô vít bằng kim loại dài khoảng 13cm do chị Trần Thị Thu H giao nộp; 01 tuýp sắt bằng kim loại tối màu dài khoảng 80cm, đường kính khoảng 02cm do ông Đỗ Văn Th giao nộp; 01 chiếc búa đầu bằng kim loại, cán bằng gỗ dài khoảng 25cm do Nguyễn Văn Tr giao nộp đã được chuyển giao, bảo quản theo quy định.
Vấn đề trách nhiệm dân sự: Ông Đỗ Văn Th không yêu cầu Nguyễn Văn Tr bồi thường bất kỳ chi phí nào.
Bản Cáo trạng số 204/CT-VKSTPNĐ ngày 28-8-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Nguyễn Văn Tr về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, sau đây sẽ được viết tắt là BLHS.
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn Tr khai nhận do có mâu thuẫn cá nhân với nhau từ trước nên không làm chủ được bản thân đã gây thương tích cho ông Th như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”; xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù;
Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy 01 chiếc ghế nhựa dạng ghế tựa kích thước (25x30x63)cm, 01 chiếc tô vít bằng kim loại dài khoảng 13cm, 01 tuýp sắt bằng kim loại tối màu dài khoảng 80cm, 01 chiếc búa đầu bằng kim loại, cán bằng gỗ dài khoảng 25cm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị hại (ông Th) không yêu cầu bị cáo bồi thường nhưng đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Do không làm chủ được bản thân đã gây thương tích cho bị hại, rất hân hận và xin lỗi bị hại, hiện nay vợ đã bỏ đi phải nuôi 02 con còn nhỏ nên mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Tr và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn Tr, lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: khoảng 10 giờ ngày 21-6-2023, tại vỉa hè trước cửa ki ốt số 01 tổ dân phố số 1 đường Tr, do mâu thuẫn cá nhân ông Đỗ Văn Th đã tuýp sắt vụt vào cổ tay Tr gây sưng nề thì bị Tr đã cầm 01 chiếc búa đầu bằng kim loại đập 03 cái vào người ông Th trong đó có 01 cái trúng vào vùng đầu ông Th gây thương tích cho ông Th với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 03%. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng búa đầu bằng kim loại là hung khí nguy hiểm đánh vào người ông Th là có khả năng gây ra thương tích cho ông Th và mong muốn cho hậu quả xảy ra, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 BLHS với tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm…”. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm sức khỏe của công dân được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu đã 02 lần bị kết án (đã được xóa án tích), bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình và sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú, bản thân bị hại cũng có một phần lỗi do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nên quan điểm của Kiểm sát viên là tương đối phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Đỗ Văn Th không yêu cầu bị cáo bồi thường do đó Hội đồng xét xử không giải quyết vấn đề dân sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ tại Điều 47 BLHS; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: 01 chiếc ghế nhựa dạng ghế tựa kích thước (25x30x63)cm, 01 chiếc tô vít bằng kim loại dài khoảng 13cm, 01 tuýp sắt bằng kim loại tối màu dài khoảng 80cm, 01 chiếc búa đầu bằng kim loại, cán bằng gỗ dài khoảng 25cm là công cụ bị cáo, bị hại dùng vào việc phạm tội và cũng không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Tr bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22-6-2023.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc ghế nhựa dạng ghế tựa kích thước (25x30x63)cm, 01 chiếc tô vít bằng kim loại dài khoảng 13cm, 01 tuýp sắt bằng kim loại tối màu dài khoảng 80cm, 01 chiếc búa đầu bằng kim loại, cán bằng gỗ dài khoảng 25cm (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố N).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Văn Tr phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Tr và bị hại là ông Đỗ Văn Th có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Toà án nhân dân tỉnh Nam Định; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Nam Định; - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Nam Định; - Công an TP. Nam Định; - Lưu Hồ sơ; - Lưu VP. CÁC HỘI THẨM | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Công Khánh THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Công Khánh |