- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên án về tội “Trộm cắp tài sản”: Tuyên bố, Nguyễn Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 196/2023/HS-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 27/12/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ bị cáo N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng Vương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Kim Ngàn.
2. Bà Đỗ Thị Kim Nhàn.
- Thư ký phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Bà Đỗ Thị Kim Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Phan Duy Thịnh – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Ngọc Thanh – Kiểm sát viên.
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Phạm Minh Hiệu – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 223/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an Quận M. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1620/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trọng N. Giới tính: Nam, sinh ngày: XX/YY/1989, sinh quán: Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký HKTT: Số M, đường N phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở hiện nay: Số B, đường L phường S, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Không. Cha: Vô danh. Mẹ: Nguyễn Ngọc H- Đã chết. Gia đình bị cáo có 03 anh, em. Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Vợ: Trần Ngọc Linh T, sinh năm: 1987. Bị cáo có 02 người con (Lớn nhất sinh năm: 2011; Nhỏ nhất sinh năm: 2019).
Nhân thân:
- Ngày 27/6/2012, bị Toà án nhân dân quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 181/2012/HSST ngày 27/6/2012.
- Ngày 08/01/2013, bị Toà án nhân dân Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, tổng hợp hình phạt với bản án số 181/2012/HSST ngày 27/6/2012 buộc bị cáo N chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 08 năm 06 tháng tù, theo Bản án số 05/2013/HSST. Đến ngày 27/4/2018, đã chấp hành xong hình phạt tù về địa phương, đến nay đã xoá án tích.
Tiền án – Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt và tạm giam từ ngày 26/8/2023 đến nay.
Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần – Nhà tạm giữ Công an Quận M.
Bị hại:
Ông Lê Huy H, sinh năm: 2003- (vắng mặt);
Địa chỉ: Số 0 đường NGT, ĐB, tình Quảng Nam.
Nơi cư trú: Số B đường N, xã A, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
Người có quyền lợi, bị cáo N vụ liên quan:
1. Công ty TNHH MTV Dịch vụ Kỷ thuật Tin học TN, do ông Nhiệm Minh M, chức vụ: Giám đốc là người đại diện theo pháp luật.
Địa chỉ: C đường H , Phường H, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bà Trần Ngọc Linh T, sinh năm: 1987- (vắng mặt);
Địa chỉ: Số B, đường L phường S, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người làm chứng:
Ông Lê Võ L, sinh năm: 1971;
Địa chỉ: N đường N , phường BN, Quận 1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua mối quan hệ ngoài xã hội, Nguyễn Trọng N quen biết với Trần Hồng D (Sinh năm: 1986; HKTT: số X, đường HB, Phường O, Quận I, TP. HCM). Khoảng 20 giờ ngày 15/8/2023, bị cáo N điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Vario biển số 59L3-05.XXX đến nhà D chơi rồi cùng nhau đi ăn uống. Đến khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày, khi cả hai đang lưu thông đến giao lộ H-N, phường BN, Quận 1, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên D rủ bị cáo N vào bãi giữ xe số N đường N , phường BN, Quận 1 tìm xe mô tô không khóa cốp để lấy trộm tài sản thì bị cáo N đồng ý. Thực hiện ý định trên, bị cáo N điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Vario biển số 59L3-05.XXX chở D đến trước số số B, đường N (trên đường H) rồi để xe phía bên hông số số U đường H, phường BN, Quận 1. Sau đó, cả hai đi vào bãi tìm xe mô tô không khóa cốp để trộm cắp, bị cáo N lục soát mở cốp được 3 xe mô tô (không rõ biển số) nhưng không tìm thấy tài sản còn D mở cốp xe mô tô của anh Lê Huy H phát hiện lấy được số tài sản gồm: 01 laptop hiệu MSI, 01 máy tính bảng hiệu Samsung Galaxy Tab S7 FE màu xanh (để bên trong cốp xe mô tô) và 01 ba lô màu xanh (để bên ngoài). Sau đó, D để laptop, máy tính bảng vào ba lô rồi cùng bị cáo N lấy xe mô tô biển số 59L3-05.XXX chạy thoát.
Đến ngày 17/8/2023, bị cáo N điều khiển xe mô tô biển số 59L3-05.XXX đến nhà chở D đến cửa hàng TN, số C đường H , Phường H, Quận I bán Laptop hiệu MSI được 3.000.000VNĐ; D chia cho bị cáo N 1.500.000VNĐ. Đối với máy tính bảng do thấy còn mới nên bị cáo N thỏa thuận và mua lại từ D với giá 1.000.000VNĐ, mang về nhà sử dụng.
Qua điều tra truy xét, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 xác định Nguyễn Trọng N là người đã thực hiện hành vi trộm cắp nên đã đưa về trụ sở làm rõ.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 233/KL-HĐĐGTS ngày 25/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân D Quận 1, kết luận 01 máy tính bảng hiệu SamSung Galaxy Tab S7 FE, số seri: XXXW40CW9RF có trị giá là 7.200.000 đồng. Đối với 01 Laptop hiệu MSI màu xám và 01 balo màu xanh hội đồng từ chối định giá (do chưa thu hồi được).
Quá trình điều tra, Nguyễn Trọng N khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo N phù hợp với lời khai bị hại, biên bản đối chất, kết quả thực nghiệm điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 thu thập được.
Ông Nhiệm Minh M là người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH TM-DV kỹ thuật tin học TN, địa chỉ: B đường H, Phường H, Quận I, khai không quen biết, cũng không mua Laptop như bị cáo bị cáo N đã trình bày. Bị cáo bị cáo N khai, bị cáo không trực tiếp giao dịch, chỉ chở Trần Hồng D đến địa chỉ của Công ty TN nêu trên rồi bị cáo về đi đón con nên không rõ D vào bán cho ai. Do chưa bắt được D, ông Mạnh không thừa nhận nên chỉ căn cứ vào lời khai của bị cáo là chưa đủ căn cứ xem xét hành vi về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên đề nghị không xem xét.
Đối với Trần Hồng D qua xác minh hiện đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, Cơ quan điều tra Công an Quận 1 đã ra Quyết định tách vụ án và ra Quyết định truy tìm người để tiếp tục điều tra truy xét, khi nào bắt giữ được D ghi lời khai làm rõ xử lý sau.
Bản cáo trạng số: 03/CT-VKS-Q1 ngày 13/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo có nhân thân rất xấu, từng bị xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp tài sản” nay lại tiếp tục phạm tội nên cần phải xử phạt nghiêm. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại Phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại và bị hại có đơn xin bãi nại nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù, miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng thu giữ:
- Đối với 01 (một) máy tính bảng hiệu SamSung Galaxy Tab S7 FE, số seri: XXXW40CW9RF (đã thu hồi trả lại cho người bị hại là anh Lê Huy H).
- Đối với 01 (một) laptop hiệu MSI màu xám (chưa thu hồi được); 01 (Một) balo màu xanh, không rõ nhãn hiệu (chưa thu hồi được).
- Đối với 01 (một) đĩa DVD ghi nhận hình ảnh vụ việc (lưu trong hồ sơ), là chứng cứ liên quan đến vụ án nên đề nghị lưu hồ sơ vụ án.
- Thu giữ của Nguyễn Trọng N:
+ Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Vario, biển số 59L3-XXX.26, có số khung: MH1KF411XKK874XXX, số máy: KF41E18765XX. Qua giám định, xe mô tô có số khung, số máy không thay đổi. Qua xác minh, xe mô tô trên do Nguyễn Trọng N đứng tên chủ sở hữu là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A72, số Imei 1: 35784323237XXX/01, số Imei 1: 353546292377XXX/01;
+ Đối với 01 (một) quần jean ống dài màu xanh và 01 đôi dép màu trắng (là trang phục bị cáo N mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp).
* Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Nguyễn Trọng N đã bồi thường cho anh Lê Huy H số tiền 8.000.000 VNĐ đối với số tài sản không thu hồi được, anh Hồng có đơn bãi nại và không có yêu cầu gì về dân sự.
Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đang tạm giữ các vật chứng trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, các đương sự khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét, lời khai của bị cáo tại phiên Tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, tờ tự khai, biên bản bắt người phạm tội, kết luận định giá tài sản số 233/KL-HĐĐGTS ngày 25/8/2023,… nên có đủ căn cứ Kết luận: Vào khoảng 22 giờ ngày 15/8/2023, tại bãi giữ xe số N đường N , phường BN, Quận 1, Nguyễn Trọng N có hành vi cùng đồng phạm lén lút chiếm đoạt 01 máy tính bảng hiệu SamSung Galaxy Tab S7 FE, số seri: XXXW40CW9RF có trị giá là 7.200.000 đồng của anh Lê Huy H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao. Vì động cơ, mục đích muốn có tiền tiêu xài nhưng lại lười lao động, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm, bị cáo N, cùng đồng bọn đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội, trị an tại địa phương. Về nhân thân, tiền án tiền sự, bị cáo có nhân thân xấu, bị xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Cướp tài sản” nhưng nay vẫn tiếp tục phạm tội. Do vậy, nên cần có mức án thật nghiêm khắc mới đủ sức giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về tiền án, tiền sự: không.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 và tại phiên tòa, bị cáo bị cáo N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã bồi thường và được bị hại bãi nại nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo qui định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Ông Nhiệm Minh M là người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH TM-DV kỹ thuật tin học TN, địa chỉ: B đường H, Phường H, Quận I, khai không quen biết, cũng không mua Laptop như bị cáo bị cáo N đã trình bày. Bị cáo bị cáo N khai, bị cáo không trực tiếp giao dịch, chỉ chở Trần Hồng D đến địa chỉ của Công ty TN nêu trên rồi bị cáo về đi đón con nên không rõ D vào bán cho ai. Do chưa bắt được D, ông M không thừa nhận nên chỉ căn cứ vào lời khai của bị cáo là chưa đủ căn cứ xác định hành vi về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Đối với Trần Hồng D qua xác minh hiện đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, Cơ quan điều tra Công an Quận 1 đã ra Quyết định truy tìm D để tiếp tục điều tra truy xét, khi nào có đủ căn cứ sẽ điều tra làm rõ và xử lý sau.
. Về yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) máy tính bảng hiệu SamSung Galaxy Tab S7 FE, số seri: XXXW40CW9RF (đã thu hồi trả lại cho người bị hại là anh Lê Huy H), bị cáo đã thoả thuận bồi thường xong và bị hại có đơn bãi nại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 (một) Laptop hiệu MSI màu xám (chưa thu hồi được); 01 (một) balo màu xanh, không rõ nhãn hiệu (chưa thu hồi được) nên không có sở xem xét.
- Đối với 01 (một) đĩa DVD ghi nhận hình ảnh vụ việc (lưu trong hồ sơ), là chứng cứ liên quan đến vụ án nên tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án.
- Thu giữ của Nguyễn Trọng N:
+ Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Vario, biển số 59L3-XXX.26, có số khung: MH1KF411XKK874XXX, số máy: KF41E18765XX. Qua giám định, xe mô tô có số khung, số máy không thay đổi. Qua xác minh, xe mô tô trên do Nguyễn Trọng N đứng tên chủ sở hữu, là phương tiện bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quĩ Nhà nước.
+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A72, số Imei 1: 35784323237XXX/01, số Imei 1: 353546292377XXX/01 là tài sản cá nhân bị cáo, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo;
+ Đối với 01 (một) quần jean ống dài màu xanh và 01 (một) đôi dép màu trắng (là trang phục bị cáo N mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp) tịch thu tiêu huỷ.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và các đương sự khác được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên án về tội “Trộm cắp tài sản”: Tuyên bố, Nguyễn Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng N 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/8/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 27/12/2023.
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Vario, biển số 59L3-XXX.26, có số khung: MH1KF411XKK874XXX, số máy: KF41E18765XX. Qua giám định, xe mô tô có số khung, số máy không thay đổi. Qua xác minh, xe mô tô trên do Nguyễn Trọng N đứng tên chủ sở hữu, là phương tiện bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội.
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A72, số Imei 1: 35784323237XXX/01, số Imei 1: 353546292377XXX/01 là tài sản cá nhân bị cáo, không liên quan đến vụ án;
+ Tịch thu tiêu huỷ (một) quần jean ống dài màu xanh và 01 (một) đôi dép màu trắng (là trang phục bị cáo N mặc khi thực hiện hành vi phạm tội).
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 301/2023/PNK-THAHS ngày 04/12/2023 của Công an Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh).
Kiến nghị cơ quan Cảnh sát Điều tra tiếp tục điều tra làm rõ đối với Trần Hồng D qua xác minh hiện đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, Cơ quan điều tra Công an Quận 1 đã ra Quyết định truy tìm D để tiếp tục điều tra truy xét, khi nào có đủ căn cứ sẽ điều tra làm rõ và xử lý sau.
3. Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Trọng N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
4. Áp dụng vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
5. Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự; trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND Quận 1, TP. HCM; - Chi cục THADS Q.M, TP. HCM; - Công an Quận M, TP. HCM; - Phòng PC 53; - Sở Tư pháp TP. HCM; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án.(Tk.Thịnh). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Hoàng Vương |