- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình N. Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 196/2023/HS-PT Ngày: 20-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Đỗ Mạnh Hùng
Các Thẩm phán:
Ông Trịnh Văn Hùng
Ông Nguyễn Duy Hoài
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại Hội trường Tổ 6, Phường 2, thành phố Bảo Lộc, Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 218/2023/TLPT-HS ngày 25/10/2023 đối với bị cáo Nguyễn Đình N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 107A/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
* Bị cáo kháng cáo:
- Bị cáo: Nguyễn Đình N, sinh năm 1982, tại: Quảng Ngãi; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Nhà ông Nguyễn Đình Sơn, Hẻm số 123 HV, thị trấn DL, huyện Di Linh, Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 04/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; con ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1966; năm 2008 đến 2012 sống chung như vợ chồng với chị: Nguyễn Thị Ái N, sinh năm 1985 và có 01 con chung sinh năm 2009; năm 2015 đến nay sống chung như vợ chồng với chị Trần Thị H, sinh năm 1988, con: Bị cáo có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Vân - Văn phòng Luật sư Thanh Phương; Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 04/02/2023 Nguyễn Đình N điều khiển xe mô tô chở theo bạn tên Phong (chưa rõ nhân thân, lai lịch) và con trai là cháu Nguyễn Tấn Phát, sinh năm 2019 đến nhà anh Nguyễn Văn Luật tại Thôn Đăng Rách, xã Gung Ré, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng ăn cơm, uống rượu. Trong lúc ăn nhậu bị cáo có mâu thuẫn với bị hại anh Phạm Văn Đức hai bên xảy ra cãi vã và thách thức đánh nhau thì được mọi người can ngăn nên Nam chở bạn là anh Phong (chưa rõ nhân thân, lý lịch) và con trai là Nguyễn Tấn Phát bỏ ra về. Khi đi đến cổng chào của thôn Đăng Rách, xã Gung Ré, huyện Di Linh thì Phong xuống xe đi vệ sinh còn Nam chở cháu Phát đến nhà chị Ka Hà tại thôn Hàng Làng, xã Gung Ré, huyện Di Linh để gửi con. Khi đến nhà chị Ka Hà thì Nam đi xuống bếp nhà chị Hà lấy 01 con dao để trong gùi, Nam cất dao vào trong áo khoác, mục đích quay lại để đánh nhau với Đức.
Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày Nam quay lại chỗ cổng chào thôn Đăng Rách, xã Gung Ré, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng thì Đức và K’Se đi ra từ nhà anh Luật. Đức nhặt một cây gậy bằng kim loại dài khoảng 30 cm ở cổng nhà anh Đức nếu gặp Nam sẽ đánh nhau với Nam. Khi gặp Nam thì Đức dùng gậy đánh trúng vào người Nam. Nam rút dao từ trong áo khoác chém Đức trúng vào đầu và tay trái. Thấy Nam và Đức đánh nhau nên Phong và K’Se vào can ngăn, K’Se giật con dao trên tay Nam nên bị dao cứa vào tay trái. Sau khi được can ngăn hai bên không đánh nhau nữa, Nam lấy xe chở Phong về, còn Đức được người nhà anh Luật đưa đi cấp cứu tại bệnh viện.
Hậu quả sự việc: Phạm Văn Đức bị thương tích tại vùng đầu và tay trái.
Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Đình N và K’ Se do thương tích nhẹ, không đi điều trị tại cơ sở y tế nào nên đã làm đơn xin từ chối giám định thương tích. Phạm Văn Đức có đơn xin giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 152/2023-PYLĐ ngày 07 tháng 04 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Phạm Văn Đức là 15% (mười lăm phần trăm). Tổn thương do vật sắc gây nên”.
Tại Cáo trạng số: 94/CTr - VKS ngày 28 tháng 08 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 107A/2023/HS-ST ngày 21-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh đã xử;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình N phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình N 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 03/10/2023, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại nội dung bản án sơ thẩm, khai nhận hành vi như bản án sơ thẩm đã xét xử; đồng thời giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất với tội danh, điều luật mà bản án sơ thẩm đã xét xử, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bản thân là lao động chính phải nuôi 04 con nhỏ, đã khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nên đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo thống nhất với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn với Phạm Văn Đức trong lúc ngồi ăn cơm tại nhà anh Luật vào tối ngày 04/02/2023, bị cáo Nam đã bỏ về nhưng trên đường đi về nhà bị cáo Nam vào nhà chị Ka Hà tại thôn Hàng Làng, xã Gung Ré, huyện Di Linh để gửi con và xuống bếp nhà chị Hà lấy 01 con dao cất dao vào trong áo khoác và quay lại để đánh nhau với Đức.
Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày bị cáo quay lại chỗ cổng chào thôn Đăng Rách, xã Gung Ré, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng thì Đức và K’Se đi từ nhà anh Luật ra. Đức nhặt một cây gậy bằng kim loại dài khoảng 30 cm ở cổng nhà anh Luật đánh trúng vào người Nam. Nam rút dao từ trong áo khoác ra chém Đức trúng vào đầu và tay trái Đức, anh Phong và K’Se vào can ngăn, K’Se giật con dao trên tay Nam thì bị cáo dừng lại. Hậu quả anh Đức bị thương tật 15%.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Đình N phạm tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng; Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, phân tích, đánh giá, xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nguyên nhân xảy ra vụ án để áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án 30 tháng tù là thỏa đáng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới, mức án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo tương xứng với hành vi phạm tội, đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chấp nhận quan điểm giải quyết của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình N phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình N 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Đình N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (04); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND huyện Di Linh (04); - VKSND huyện Di Linh (01); - Cơ quan CSĐT CA huyện Di Linh (01); - Cơ quan THAHS huyện Di Linh (01); - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (03); Luật sư (01); - Hồ sơ THAHS (04); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đỗ Mạnh Hùng |