- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Hải - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 196/2022/HS-PT Ngày: 23-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Ngầu
Ông Trần Quốc Vũ
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2022 tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây C xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 201/2022/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Đỗ Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân C, tỉnh Tây C.
- Bị cáo có kháng cáo: Đỗ Văn H (tên gọi khác: Dái), sinh năm 1993, tại Campuchia; nơi cư trú: ấp Đồng Kèn 2, xã Tân T, huyện Tân C, tỉnh Tây C; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T và bà Trần Thị H; có vợ là Trần Thị P và 01 người con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/5/2022 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: anh Nguyễn Chí T, sinh năm 2005; nơi cư trú: ấp Đồng Kèn 2, xã Tân T, huyện Tân C, tỉnh Tây C; vắng mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1977; nơi cư trú: ấp Đồng Kèn 2, xã Tân T, huyện Tân C, tỉnh Tây C; vắng mặt.
2. Bà Lê Thị D, sinh năm 1978; nơi cư trú: ấp Đồng Kèn 2, xã Tân T, huyện Tân C, tỉnh Tây C; vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại Nguyễn Chí T là Ông Nguyễn Hữu Lộc – Luật sư thuộc đoàn Luật sư tỉnh Tây C; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28-9-2021 Nguyễn Chí T, Đào Nhựt H và anh Lê Văn B tổ chức uống bia tại nhà của anh H; anh B đi về trước, sau đó anh T đi về nhưng xe bị hết xăng; H lấy xe mô tô chở anh T đi mua xăng trên đường về ngang nhà của Đỗ Văn H, thấy H đang ngồi uống bia với anh Đặng T Hiếu và anh B, nên H dừng xe lại trước nhà H và chửi thề “Đụ mẹ tụ tập ăn nhậu mà không rủ” nên H có rủ H nhưng H không vào mà tiếp tục nói “Rủ thì rủ từ đầu chứ ăn nhậu rồi mà rủ tao, tao ghét”. Nói xong H cầm bịch xăng ném về phía chỗ H đang ngồi làm bịch xăng vỡ ra nhưng không gây thiệt hại gì. Thấy vậy, anh Hiếu và anh B đi ra can ngăn kêu H đi về, T cũng đi vào can ngăn H; vì sợ hai bên đánh nhau nên anh T dùng tay nắm và kéo áo của H, nghĩ là T đánh H nên chị Trần Thị P (vợ của H) ôm anh T lại thì anh T vung tay làm chị P bị ngã vào vách tường, nhưng không gây T tích. H nghĩ là anh T đánh chị P nên lấy 01 cây dao bằng kim loại dài 97cm, phần lưỡi dài 70cm, phần lưỡi dao rộng nhất 5,5cm, tay pH cầm dao đứng đối diện chém ngang vào người anh T theo hướng từ pH sang trái, anh T đưa tay trái ra đỡ thì bị trúng vào cổ tay trái gây T tích. Do bị chảy máu nhiều nên anh T đi lại bàn bida trước nhà H nằm. Trong lúc anh T và H đánh nhau, H bỏ đi về nhà lấy 01 cây rựa quay lại nhà của H để đánh nhau với H nhưng thấy tay của anh T bị chảy máu nên anh H bỏ cây rựa và đưa anh T đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Hồng Hưng, sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa Xuyên Á - Tây C điều trị đến ngày 20/11/2021 thì xuất viện.
Kết giám định pháp y về T tích số 49/2022/TgT ngày 28/02/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Tây C kết luận đối với tỷ lệ tổn T cơ thể của Nguyễn Chí T do T tích gây nên hiện tại là 49%.
Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Chí T cùng gia đình yêu cầu Đỗ Văn H bồi thường chi phí điều trị vết T và yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần với số tiền tổng cộng là 192.215.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường số tiền 15.000.000 đồng. Yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp số tiền 177.215.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân C, tỉnh Tây C đã xử:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H (tên gọi khác: Dái) 05 (năm) năm tù về tội “Cố ý gây T tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 13/5/2022.
Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo bồi thường cho bị hại Nguyễn Chí T số tiền 177.215.000 đồng (một trăm bảy mươi bảy triệu hai trăm mười lăm nghìn) đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 05 tháng 10 năm 2022 bị cáo Đỗ Văn H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ mới; đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm bị cáo; người đại diện bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm. Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm là hợp pháp.
Đơn kháng cáo của bị cáo H làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo:
Về tội danh: căn cứ vào lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định có cơ sở xác định: khoảng 20 ngày 28/9/2021, H chở T đi mua xăng trên đường về ngang nhà của H, thấy H ngồi uống bia với anh Hiếu và anh B, nên H dừng xe lại chửi thề “Đụ mẹ tụ tập ăn nhậu mà không rủ” nên H rủ H nhưng H không vào. Nói xong H cầm bịch xăng ném về phía chỗ H đang ngồi. Thấy vậy, anh Hiếu, anh B can ngăn kêu H đi về; T đi vào can ngăn vì sợ hai bên đánh nhau, T dùng tay nắm và kéo áo của H, nghĩ là T đánh H nên chị Trần Thị P (vợ của H) ôm T lại thì T vung tay làm chị P bị ngã vào vách tường. H nghĩ là T đánh chị P nên lấy 01 cây dao bằng kim loại dài 97cm, phần lưỡi dài 70cm, tay pH cầm dao chém ngang vào người T theo hướng từ pH sang trái, T đưa tay trái đỡ thì bị trúng vào cổ tay trái gây T tích; theo kết luận giám định tỷ lệ tổn T cơ thể gây nên tại thời điểm trưng cầu giám định là 49%. Hành vi nêu trên của bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xử về tội “Cố ý gây T tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị hại vào can ngăn, bị cáo nghỉ là đánh vợ mình nên dùng dao chém bị hại một cách vô cớ gây T tích 49%. Cần xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục răn đe phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như T khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng; xử phạt bị cáo 05 năm tù là mức khởi điểm của khung hình phạt không nặng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ mới nên không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo; cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm là có căn cứ, phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên pH chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các quyết định của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn H.
3. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 92/2022/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân C, tỉnh Tây C.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H (tên gọi khác: Dái) 05 (năm) năm tù về tội “Cố ý gây T tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 13/5/2022.
4. Về tiền án phí: bị cáo Đỗ Văn H pH chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 (TANDTC); - TANDCC tại TP HCM; - VKSNDCC tại TP HCM; - VKSND tỉnh Tây C; - CQTHA hình sự huyện Tân C; - CQĐT Công an huyện Tân C; - TAND huyện Tân C; - Chi cục THADS huyện Tân C; - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây C; - Phòng KTNV TAND tỉnh Tây C; - Bị cáo; - UBND xã Tân T, huyện Tân C ; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án HSPT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan T Tùng |