- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phúc Gia H phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phúc Gia H; Sửa hình phạt Bản án Hình sự sơ thẩm số 59/2022/HS-ST ngày 23-6-2022 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, giảm một phần hình phạt đối với bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 196/2022/HS-PT Ngày 28-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Nhậm
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Phượng
Ông Trần Quốc Khánh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 136/2022/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 20221 đối với bị cáo Nguyễn Phúc Gia H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2022/HS-ST ngày 23-6-2022 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Phúc Gia H, tên gọi khác: không có; sinh năm: 1995; tại Bình Phước; Hộ khẩu thường trú: xã D, huyện D, tỉnh Bình Phước; chỗ ở hiện nay: thị trấn H, huyện D, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: nhân viên bán hàng; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Ngọc N; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không có. Tiền sự: không có;
Bị cáo được tại ngoại (có mặt).
Những người không kháng cáo, kháng nghị không triệu tập:
- Bị hại: Cửa hàng điện máy xanh T.
Địa chỉ: xã T, huyện D, tỉnh Long An;
Người đại diện theo pháp luật: bà Võ Thị Kim P, chức vụ: giám đốc chi nhánh.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Trọng N, sinh năm 1985. Địa chỉ: xã T, huyện D, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Bà Cao Thị N, sinh năm 1964;
Địa chỉ: xã T, huyện D, tỉnh Long An.
- Người làm chứng:
+ Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
+ Ông Dương Văn Thắng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Phúc Gia H là nhân viên tiếp thị của công ty trách nhiệm hữu hạn ViVo smartphone, H có nhiệm vụ giới thiệu điện thoại ViVo đến khánh hàng, điểm bán tại cửa hàng Điện máy xanh thuộc xã T, huyện D, tỉnh Long An. Khoảng 08 giờ ngày 18/12/2021, như thường lệ H đến làm việc tại cửa hàng Điện máy xanh. Khoảng 12 giờ cùng ngày, H nói với bà Nguyễn Thị Thu Vân là trợ lý tại cửa hàng để H đi làm vệ sinh tủ kính trưng bày điện thoại di động, bà Vân đồng ý. H lấy chìa khóa mở tủ kính số 5 để làm vệ sinh tủ kính. Trong lúc làm vệ sinh, H nhìn thấy điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 256Gb, vỏ màu vàng đặt trong tủ kính cửa hàng Điện máy xanh nên nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại này để đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. H quan sát xung quanh thấy không có ai để ý, H lấy điện thoại cất giấu vào trong hộp đựng loa bằng giấy rồi cầm đi vào trong nhà kho phía sau của cửa hàng Điện máy xanh. Tại đây, H mở hộp lấy điện thoại bỏ vào túi áo khoác màu xám của H và bỏ hộp giấy lại trong kho. H mặc áo khoác có điện thoại vừa lấy trộm được đi ra ngoài lấy xe mô tô hiệu SUZUKI loại RAIDER, màu đỏ đen, biển số 62P1- 859.56 và điều khiển xe chạy về nhà H tại khu vực 4, thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để cất giấu điện thoại. Sau đó, H quay lại cửa hàng Điện máy xanh tiếp tục làm việc. Đến ngày 19/12/2021, ông Lê Minh Thạnh là người quản lý cửa hàng Điện máy xanh T kiểm tra phát hiện bị mất trộm 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax 256GB nên đến Cơ quan Công an trình báo sự việc. Đến ngày 22/12/2021do bị phát hiện hành vi trộm cắp điện thoại nên đem điện thoại lấy trộm được để lại trong kho cửa hàng Điện máy xanh và nhắn tin qua mạng zalo kêu ông Thạnh kiểm tra nhà kho. Ông Thạnh và bà Vân kiểm tra kho cửa hàng thu giữ được điện thoại bị mất trộm và giao nộp Cơ quan Công an xử lý. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Nguyễn Phúc Gia H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Ngày 31/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Hòa đã yêu cầu định giá tài sản số 355/YC/ĐTTH yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Hòa tiến hành định giá tài sản.
Bản kết luận về định giá tài sản số 01/KL.ĐGTS ngày 04/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đức Hòa kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13 pro Max 256 có giá là 34.990.000 đồng; Tổng tài sản thiệt hại là 34.990.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án đại diện người bị hại trình bày đã nhận lại tài sản xong, không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Có văn bản đề nghị bãi nại cho bị cáo.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Cao Thị N trình bày: Bà là chủ sở hữu của xe mô tô hiệu Suzuki loại Raider màu đỏ, đen, biển số kiểm soát 62 P1 – 859.56 do H không có xe đi làm nên bà cho H mượn để đi làm (bà là cô ruột của H) nay bà không có yêu cầu gì đối với bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm 59/2022/HS-ST ngày 23-6-2022 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã xử:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Phúc Gia H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc Gia H 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính bắt bị cáo chấp hành án.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.
Ngày 28/6/2022, bị cáo Nguyễn Phúc Gia H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo Nguyễn Phúc Gia H thừa nhận thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đúng như bản án sơ thẩm đã xử, bị cáo xác định bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan. Bị cáo Nguyễn Phúc Gia H kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm có nội dung:
Bị cáo kháng cáo trong thời hạn theo quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.
Khoảng 12 giờ ngày 18/12/2021, tại cửa hàng Điện máy xanh thuộc xã T, huyện D, tỉnh Long An, Nguyễn Phúc Gia H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Apple loại Iphone 13 Pro Max 256GB, vỏ màu vàng của Chi nhánh Công ty cổ phần Thế giới di động - cửa hàng Điện máy xanh T trị giá 34.990.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại H đem về nhà H cất giấu. Cửa hàng sau khi phát hiện mất điện thoại đã báo cho Cơ quan điều tra, đến ngày 22/12/2021, do bị phát hiện hành vi trộm cắp điện thoại nên H đem điện thoại đến cửa hàng để trả lại và sau đó bị Cơ quan Công an mời làm việc, H khai nhận hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo Nguyễn Phúc Gia H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Khi phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1; khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo 01 năm tù.
Ngày 28/6/2022, Nguyễn Phúc Gia H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo.
Xét thấy: Khi kháng cáo bị cáo cho rằng bị cáo là lao động chính nhưng bản thân cha mẹ bị cáo chưa đến 60 tuổi, em bị cáo đã thành niên, bản thân chưa vợ, con nên không xem xét là lao động chính. Mặt khác mức án 01 năm tù mà Tòa sơ thẩm tuyên phạt bị cáo là không cao, bị cáo kháng cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới ngoài những tình tiết mà bản án sơ thẩm đã xem xét nên cần giữ y án sơ thẩm để răn đe, phòng ngừa chung.
Từ những phân tích trên Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, khoản 1, Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phúc Gia H giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 59/2022/HS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tỉnh Long An.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các khoản khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục Phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời gian kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục Phúc thẩm.
Bị cáo không tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Bị cáo Nguyễn Phúc Gia H kháng cáo trong thời hạn theo quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.
Về nội dung: Khoảng 12 giờ ngày 18/12/2021, tại cửa hàng Điện máy xanh thuộc ấp Chánh Hội, xã T, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An, bị cáo Nguyễn Phúc Gia H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Apple loại Iphone 13 Pro Max 256GB, vỏ màu vàng của Chi nhánh công ty cổ phần Thế giới di động - Cửa hàng Điện máy xanh T đã được định giá theo tố tụng có trị giá thành tiền là 34.990.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại bị cáo đem về nhà tại khu vực 4, thị trấn Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cất giấu. Đến ngày 22/12/2021, do bị phát hiện hành vi trộm cắp điện thoại nên bị cáo đem điện thoại đến cửa hàng để trả lại và sau đó bị Cơ quan Công an mời làm việc, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.
Bị cáo Nguyễn Phúc Gia H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của cửa hàng Điện máy xanh. Hành vi của bị cáo được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây mất an ninh tại địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ nên án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật và không oan sai. Án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 1 năm tù. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Khi xét xử án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Phúc Gia H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 01 (một) năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ bị cáo có khi xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, thể hiện tại hồ sơ vụ án, bị hại có yêu cầu bãi nại cho bị cáo là tình tiết được xem là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng án sơ thẩm chưa áp dụng khi xét xử đối với bị cáo nên có căn cứ xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo: Bị cáo phạm tội chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn, bị cáo kháng cáo cho rằng bị cáo là lao động chính nhưng bản thân cha mẹ bị cáo chưa đến 60 tuổi, em bị cáo đã thành niên, bản thân chưa vợ, con nên không xem xét là lao động chính. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung nên án sơ thẩm không cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp. Do vậy, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận.
Từ nhận xét trên, Hội đồng xét xử Hội đồng xét xử có căn cứ áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị cáo sửa hình phạt của bản án sơ thẩm giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Phúc Gia H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận một phần.
Các khoản khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phúc Gia H; Sửa hình phạt Bản án Hình sự sơ thẩm số 59/2022/HS-ST ngày 23-6-2022 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, giảm một phần hình phạt đối với bị cáo.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc Gia H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc Gia H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Phúc Gia H không phải chịu đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các khoản khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại TPHCM; - VKSND cấp cao tại TPHCM; - VKSND tỉnh Long An; - Sở tư pháp tỉnh Long An; - TAND huyện; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Nhậm |