vanban.org

Bản án 196/2020/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 15/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của b cáo Nguyễn Th S. Chấp nhận Quyết đ nh kháng ngh số 14/2020/QĐ-VC2, của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

Áp dụng: Khoản 3 Điều 200; điểm , s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Xử phạt: B cáo Nguyễn Th S 02 (hai) năm tù về tội “Trốn thuế”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị S - phạm tội trốn thuế (điều 200 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của b cáo Nguyễn Th S. Chấp nhận Quyết đ nh kháng ngh số 14/2020/QĐ-VC2, của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật hình sự và Ngh; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 196/2020/HS-PT
Ngày: 15-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- T phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Thi

Các thẩm phán:

Ông Lê Tự

Bà Lê Thúy Cầu

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Hải An, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thọ Định, Kiểm sát viên.

Vào ngày 15 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 170/2020/TLPT-HS ngày 21 tháng 4 năm 2020 đối với cáo Nguyễn Th S về tội “Trốn thuế”. Do có kháng cáo, kháng ngh đối với bản án hình sự sơ thẩm số 03/2020/HS-ST ngày 28/02/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Đ nh.

Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 1415/2020/QĐXXPT-HS ngày 27 tháng 8 năm 2020.

* Bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:

Nguyễn Thị S - Sinh năm: 1971 tại Bình Đ nh; nơi ĐKNKTT: Bình Đ nh; chỗ ở: Tp. Q, Bình Đ nh; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn B (sinh năm 1932) và à Nguyễn Th N (sinh năm 1940); chồng: Phan Đình P, sinh năm 1972, con: Có 04 người lớn nhất 28 tuổi, nhỏ nhất 09 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 04-4-2016 b TAND thành phố Q, tỉnh Bình Đ nh tuyên phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Mua án trái phép hóa đơn”, đã chấp hành xong. B cáo b áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, cáo tại ngoại. Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 cáo khác và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không kháng ngh .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH MTV Thương mại D ch vụ Tổng hợp V (Công ty V) được thành lập ngày 08/5/2013 theo Giấy chứng nhận ĐKKD số 4101405112 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Đ nh cấp, đăng ký thay đổi lần thứ 2 ngày 13/02/2015; ngành nghề kinh doanh: Mua án đá khối, nhựa đường; uôn án nông, lâm sản nguyên liệu… Theo đó, Đỗ Th Bình S1 là người đăng ký thành lập Doanh nghiệp, đứng tên chủ sở hữu, đại diện theo pháp luật của công ty với chức danh giám đốc, nhưng thực tế Công ty V do Nguyễn Th S là người ỏ vốn, trực tiếp quản lý, điều hành mọi hoạt động kinh doanh của công ty. Giữa Đỗ Th Bình S1 và Nguyễn Th S có giao kết ằng lời nói, nội dung: Đỗ Th Bình S1 là đại diện theo pháp luật của công ty, được trực tiếp thực hiện các giao d ch và ký các hồ sơ, giấy tờ đại diện cho công ty theo yêu cầu của S và được trả mức lương từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000đ/tháng.

- Trong kỳ hoàn thuế từ tháng 09/2013 đến tháng 11/2013, Công ty V có lập hồ sơ đề ngh hoàn thuế giá tr gia tăng. Căn cứ tài liệu, hóa đơn chứng từ liên quan thì Công ty V kê khai mua hàng hóa, d ch vụ đầu vào với tổng giá tr 53.995.750.829 đồng, thuế GTGT 5.399.575.083 đồng thành tiền 59.395.425.912 đồng; với số tiền thuế đề ngh được hoàn là 4.034.712.917 đồng. Ngày 24/12/2013, Chi cục thuế thành phố Q kiểm tra thuế tại Công ty V xác đinh số thuế GTGT của công ty được hoàn là 4.034.712.917 đồng. Ngày 30/12/2013, Cục thuế tỉnh Bình Đ nh có Quyết đ nh số 2245/QĐ-CT chấp nhận cho Công ty V hoàn thuế số tiền này. Ngày 31/12/2013, số tiền 4.034.712.917 đồng được chuyển vào tài khoản số 58110000777010 của Công ty V mở tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bình Đ nh.

Theo quy đ nh của Luật Quản lý thuế thì sau khi được hoàn thuế giá tr

gia tăng thì trong quá trình kinh doanh tiếp theo Công ty V phải thực hiện việc kê khai áo cáo và nộp thuế theo quy đ nh.

Trong kỳ tính thuế Quý II năm 2016, Công ty V đã kê khai giá tr hàng hóa, d ch vụ đầu vào với tổng giá tr 6.118.603.384 đồng, thuế GTGT 611.860.340 đồng và xuất án hàng hóa các loại với tổng giá tr 37.746.375.280 đồng, thuế GTGT hàng hóa án ra ch u thuế 3.774.637.526 đồng, nên cân đối thuế GTGT đầu ra 3.774.637.526 đồng, thuế GTGT hàng hóa, d ch vụ mua vào 611.860.340 đồng, thuế GTGT còn được khấu trừ từ Quý I năm 2016 chuyển sang 13.521.511 đồng và số tiền thuế GTGT được điều chỉnh giảm của kỳ trước là 2.231.250 đồng. Công ty V phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế GTGT cho Nhà nước của Quý II năm 2016 với số tiền 3.151.486.925 đồng. Tuy nhiên, thời điểm này Nguyễn Th S không có tiền để nộp thuế GTGT đã án hàng, nên S đã thực hiện hành vi trốn thuế như sau:

Nguyễn Th S nảy ra ý đ nh, lập khống hồ sơ mua hàng hóa đầu vào nhằm mục đích kê khai khống số thuế GTGT đầu vào để khấu trừ số thuế GTGT án hàng phải nộp, đồng thời S liên hệ với Nguyễn Thanh Phong, Lê Thanh Vân (Cơ quan điều tra không xác minh được lai l ch) ở thành phố Hồ Chí Minh là những người có quan hệ mua án hàng hóa với S, nói rằng S có thu mua gom hàng gỗ keo xẻ, gỗ ạch đàn xẻ không có hóa đơn chứng từ, nhờ Phong và Vân lấy cho S ộ hồ sơ gỗ để S kê khai áo cáo thuế. Trên cơ sở các thông tin do S cung cấp, Phong và Vân đã giao cho S ộ hồ sơ gồm hợp đồng mua án, hóa đơn GTGT, iên ản giao nhận, hồ sơ nguồn gốc gỗ thể hiện 03 công ty ở thành phố Hồ Chí Minh án gỗ keo xẻ, gỗ ạch đàn xẻ cho Công ty V tổng số lượng 9.964,94m3 với giá tr 31.589.876.500 đồng, thuế GTGT 3.158.987.650 đồng, thành tiền 34.748.864.150 đồng, gồm:

- Công ty TNHH TM DV M: Số lượng 1.775,02 m3 gỗ keo xẻ giá tr

5.591.313.000 đồng, thuế GTGT 559.131.300 đồng, thành tiền 6.150.444.300 đồng theo 02 hóa đơn GTGT.

- Công ty TNHH TM DV T: số lượng 3.322,50 m3 gỗ keo xẻ giá tr

10.465.875.000 đồng, thuế GTGT 1.046.587.500 đồng, thành tiền 11.512.462.500 đồng theo 04 hóa đơn GTGT.

- Công ty TNHH TM DV P: số lượng 4.295,09 m3 gỗ keo xẻ giá tr

13.529.533.500 đồng, thuế GTGT 1.352.953.350 đồng, thành tiền 14.882.486.850 đồng theo 05 hóa đơn GTGT; Và 572,33 m3 gỗ ạch đàn xẻ giá tr 2.003.155.000 đồng, thuế GTGT 200.315.500 đồng, thành tiền 2.203.470.500 đồng theo 01 hóa đơn GTGT.

Qua xác minh, các công ty: Công ty M, Công ty T, Công ty P không hoạt động tại đ a chỉ đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế đã ra thông áo cưỡng chế hóa đơn, doanh nghiệp ỏ đ a điểm kinh doanh. Xác minh Lê Th Nguyên T - Giám đốc Công ty M, thì bà T không có tại đ a phương, lên TP. Hồ Chí Minh sinh sống từ tháng 11/2017 trong khi Công ty M đăng ký thành lập từ năm 2015 tại TP. Hồ Chí Minh; xác minh Mai Văn H - Giám đốc Công ty T, thì H đã chết từ tháng 07/2010 khi tạm giam tại Trại giam Chí Hòa về tội mua án trái phép chất ma túy, nhưng công ty đăng ký thành lập năm 2014; xác minh Nguyễn Quốc P - Giám đốc Công ty P, ông P xác đ nh trước đến nay chỉ làm nghề iển tại đ a phương, không thành lập công ty.

Đối với nguồn gốc gỗ keo xẻ, gỗ ạch đàn xẻ như trên hồ sơ mua án giữa các công ty trên với Công ty V tại các đ a phương (phường C, TP. Pleiku, Gai Lai; xã I, huyện Đ, Gia Lai; xã C, huyện M, Đăk Lăk; xã N, huyện Đ, Đăk Nông). Qua điều tra xác đ nh: Tại đ a phương không có việc giao đất cho cá nhân để trồng rừng, cũng không có tên các cá nhân đã trồng và khai thác rừng keo, rừng ạch đàn để án cho các công ty. Chữ ký, dấu tên của Chủ t ch UBND xã, phường; khuôn dấu của UBND xã, phường trên các ộ hồ sơ nguồn gốc gỗ giống nhau có dấu hiệu được sử dụng photo ghép. Tên cán ộ kiểm lâm đ a àn ký xác nhận trên hồ sơ nguồn gốc gỗ cũng không có thực. Sau khi lập khống hồ sơ mua án gỗ nêu trên, S đưa cho Đỗ Th Bình S1 ký toàn ộ số hồ sơ, chứng từ này. Tuy nhiên, với vai trò là giám đốc đại diện theo pháp luật của công ty, Đỗ Th Bình S1 uộc phải iết về hoạt động mua án, kinh doanh hàng hóa của Công ty V. Sau khi hoàn thiện hồ sơ, S đã đưa vào kê khai áo cáo Công ty V có hàng gỗ keo xẻ, gỗ ạch đàn xẻ tồn kho tại thời điểm 30/06/2016 và kê khai áo cáo thuế GTGT nâng giá tr hàng hóa, d ch vụ mua vào của Công ty V trong Quý II năm 2016 thành 37.708.479.884 đồng, có thuế GTGT 3.770.847.990 đồng. Do đo, Công ty V không phải nộp thuế GTGT đã thực án hàng của Quý II năm 2016 số tiền 3.151.486.925 đồng. Đối với số thuế GTGT chênh lệch còn lại 7.500.725 đồng (3.158.987.650 đồng - 3.151.486.925 đồng) được S chuyển sang tiếp tục khấu trừ trong Quý III năm 2016, không phải nộp thuế GTGT cho Nhà nước số tiền này.

Để đối phó với việc kiểm tra, nên từ ngày 19/07/2016 đến ngày 25/02/2017, Nguyễn Th S đã làm thủ tục xuất hóa đơn GTGT xuất án toàn ộ số gỗ keo xẻ, ạch đàn xẻ lập khống nói trên cho các công ty của gia đình S. (Cụ thể: Công ty TNHH XD TM TH B: Số lượng 1.190,26 m3 gỗ keo xẻ giá tr 3.808.832.000 đồng, thuế GTGT 380.883.200 đồng; Công ty TNHH SX TM TH Hương S1: số lượng 1.475,87 m3 gỗ keo xẻ giá tr 4.722.784.000 đồng, thuế GTGT 472.278.400 đồng; Công ty TNHH SX TM G: số lượng 713,25 m3 gỗ keo xẻ giá tr 2.282.400.000 đồng, thuế GTGT 228.240.000 đồng; Công ty TNHH SX TM G: số lượng 6.012,80 m3 gỗ keo xẻ và 572,33 m3 gỗ ạch đàn xẻ với tổng giá tr 17.359.261.000 đồng, thuế GTGT 1.735.926.100 đồng). Với tổng giá tr 28.173.277.000 đồng, thuế GTGT phải nộp 2.817.327.700 đồng. Mục đích là để tránh phát hiện việc trốn thuế. Chi cục thuế thành phố Q xác nhận từ tháng 7/2016 đến hết tháng 06/2017 Công ty V đã nộp 150.000.000 đồng thuế GTGT, còn nợ thuế tính đến ngày 30/6/2017 là: 2.819.279.994 đồng.

Theo Kết luận giám đ nh thiệt hại về thuế của Cục thuế tỉnh Bình Đ nh thì việc lập khống hồ sơ chứng từ mua 9.964,94 m3 gỗ keo xẻ, gỗ ạch đàn xẻ của Công ty V, xác đ nh Công ty V của Nguyễn Th S trốn thuế GTGT với số tiền 3.158.987.650 đồng.

Với nội dung vụ án được xác định nêu trên, tại Bản án h nh s sơ thẩm s 03/2020/HS-ST ngày 28/02/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh B nh Định đ quyết định:

Tuyên bố: B cáo Nguyễn Th S phạm tội “Trốn thuế”.

Áp dụng: Khoản 3 Điều 200; điểm , s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Xử phạt: B cáo Nguyễn Th S 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về b cáo Đỗ Th Bình S1, về bồi thường thiệt hại, án phí, quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật.

- Ngày 26/3/2020 Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng có Quyết đ nh kháng ngh số 14/2020/QĐ-VC2 đề ngh Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chuyển 12 tháng tù nhưng được hưởng án treo của tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2016/HSST ngày 04/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Q về tội “Mua án trái phép hóa đơn” thành 12 tháng tù giam, tổng hợp 24 tháng tù của tội Trốn thuế, b cáo S phải chấp hành 36 tháng tù giam theo quy đ nh pháp luật.

- Ngày 06/3/2020 b cáo Nguyễn Th S có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng: Tại giai đoạn phúc thẩm Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy đ nh của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, tính chất hành vi phạm tội của b cáo Nguyễn Th S, Kiểm sát viên đề ngh Hội đồng xét xử bác kháng cáo xin được hưởng án treo của b cáo, đồng thời giữ nguyên Kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

. Xem xét kháng cáo về việc xin được hưởng án treo của b cáo Nguyễn Th S, Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi phạm tội của b cáo S như sau: S là người ỏ vốn, trực tiếp quản lý, điều hành mọi hoạt động kinh doanh của công ty Công ty TNHH MTV Thương mại D ch vụ Tổng hợp V (Công ty V), cáo S đã thuê Đỗ Th Bình S1 là người đứng ra đăng ký thành lập Doanh nghiệp, đứng tên chủ sở hữu, đại diện theo pháp luật của công ty với chức danh Giám đốc và được S trả mức lương từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng/tháng. (Đỗ Th Bình S1 là đồng phạm với vai trò giúp sức, đã xét xử trong vụ án này nhưng không có kháng cáo, không kháng ngh ).

Trong kỳ tính thuế Quý II năm 2016, Công ty V phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế GTGT cho Nhà nước với số tiền 3.158.987.650 đồng. Nhưng nhằm mục đích trốn thuế, b cáo S đã lập hồ sơ, chứng từ khống nhằm chiếm đoạt số tiền nêu trên, sau đó Công ty đã nộp 150.000.000, đồng số tiền còn lại b chiếm đoạt là 2.819.279.650 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm b cáo cũng đã nhận tội như nội dung Bản án sơ thẩm đã xét xử, chỉ trình bày do hoàn cảnh khó khăn thường xuyên đau ốm, đã khắc phục một phần hậu quả nên xin được hưởng án treo. Xem xét việc b cáo xin được hưởng án treo, xét thấy b cáo giữ vai trò chính trong vụ án, số tiền trốn thuế rất lớn, hơn nữa b cáo phạm tội trong thời gian thử thách của án treo, tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết gì mới, với tính chất hành vi phạm tội và hậu quả như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm đã áp dụng Khoản 3 Điều 200; điểm , s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt b cáo 02 năm tù có thời hạn, là có căn cứ, đúng pháp luật. Căn cứ quy đ nh tại Điều 65 Bộ luật hình sự và Ngh quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, đối với trường hợp phạm tội của b cáo là không đủ điều kiện để cho b cáo được hưởng án treo. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm ác kháng cáo xin được hưởng án treo của b cáo Nguyễn Th S, giữ nguyên biện pháp chấp hành hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm đối với b cáo Nguyễn Th S.

. Xét kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng nhận thấy: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2016/HSST ngày 04/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Q về tội “Mua án trái phép hóa đơn”, đã xử phạt b cáo Nguyễn Th S 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Thời gian thử thách của án treo là từ ngày 04/4/2016 đến ngày 04/4/2018 nhưng trong khoản thời gian từ ngày 19/7/2016 đến ngày 25/02/2017 b cáo đã có hành vi phạm tội “Trốn thuế” như đã nêu trên. Như vậy, có căn cứ xác đ nh b cáo Nguyễn Th S đã thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách án treo.

Tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 quy đ nh như sau:

“5. Trong thời gian thử thách, …Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này”.

Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng ngh của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, chuyển 12 tháng tù nhưng được hưởng án treo đối với b cáo Nguyễn Th S tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2016/HSST ngày 04/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Q thành 12 tháng tù giam, đồng thời áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự quy đ nh về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án. Buộc b cáo Nguyễn Th S chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Các quyết đ nh khác của Bản án sơ thẩm đối với b cáo Đỗ Th Bình S1, bồi thường thiệt hại, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh và không liên quan kháng cáo, kháng ngh nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên b cáo phải ch u án phí hình sự phúc thẩm theo quy đ nh của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 355; 356; 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của b cáo Nguyễn Th S. Chấp nhận Quyết đ nh kháng ngh số 14/2020/QĐ-VC2, của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

2. Áp dụng: Khoản 3 Điều 200; điểm , s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Xử phạt: B cáo Nguyễn Th S 02 (hai) năm tù về tội “Trốn thuế”.

3. Áp dụng Điều 65; Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Chuyển 12 tháng tù nhưng được hưởng án treo tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2016/HSST ngày 04/4/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Q đối với cáo Nguyễn Th S thành 12 tháng tù giam.

Tổng hợp hình phạt chung của hai Bản án mà b cáo Nguyễn Th S phải chấp hành là 3 ( a) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ắt thi hành án.

4. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Khoản 1 Điều 29 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí tòa án, b cáo Nguyễn Th S phải ch u 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết đ nh khác của Bản án hình sự sơ thẩm về: Bồi thường thiệt hại, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ