- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo in giảm nhẹ hình ph t tù của bị cáo Nguyễn Minh T, giữ nguyên phần quyết định bản án sơ th m số: 22/2019/HS-ST ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện C về hình ph t tù.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| N N N N N N N | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 196/2019/HS-PT Ngày: 14-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚ
N
N
N M
N N N N N
N HÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Phước Tự
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Vững
Ông Huỳnh Thanh Mỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2019 t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp t
công khai v án hình sự phúc th m th lý số: 177/2018/TLPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Minh T, do có kháng nghị của Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân huyện C và kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T đối với bản án sơ th m số: 22/2019/HS-ST ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng nghị:
Họ và tên: Nguyễn Minh T (tên gọi khác: T Ba Địch), sinh năm 1989, t i tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp 1, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Lê Thị Ngọc Ng; Tiền án: Ngày 02/12/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp ph t 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” chấp hành ong hình ph t tù ngày 17/7/2018, chưa được óa án tích; Tiền sự: Ngày 15/4/2019, bị Công an huyện C ra Quyết định ph t vi ph m hành chính số tiền 3.500.000đ về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác; t m giữ ngày 01/3/2019; t m giam ngày 04/3/2019. Hiện bị cáo đang bị t m giam t i Tr i t m giam Công an tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
Ngoài ra, trong v án còn có bị h i không kháng cáo.
N
N
N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm t t như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 01/01/2019, Nguyễn Minh T đứng trước nhà t i ấp 1, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì Võ Thị Xuân Tr, sinh năm 1974 đi bộ ngang qua, do nhớ l i mâu thuẫn việc tranh chấp đất giữa gia đình của T với gia đình chị Tr trước đó nên T lấy con dao bấm cán nhựa lưỡi kim lo i bỏ vào túi quần rồi ra đứng cặp lề đường đal để chờ Tr đi về sẽ gây thương tích cho Tr. Đúng như dự tính 13 phút sau Tr tr về đi ngang qua thì T cầm dao bấm ch y đến đâm trúng vào vai trái của Tr một cái, chị Tr bỏ ch y được khoảng 04m thì t ngã uống đường, T rượt theo và tiếp t c dùng dao bấm đâm chị Tr thêm nhiều nhát vào vùng lưng, vai, hông, mông lúc này có anh Ngô Văn Vũ Ph gần đó phát hiện ch y đến can ngăn thì T bỏ ch y. Ngay lúc đó, chị Tr được người thân trong gia đình đưa đi cấp cứu t i Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp, do thương tích nặng nên được chuyển viện lên bệnh viện C điều trị đến ngày 11/01/2019 thì ra viện với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 49% (Tổn thương trên do vật có c nh s c nhọn gây ra).
Về phía bị cáo T, sau khi gây án đã bỏ trốn khỏi địa phương lên Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống nhiều nơi khác nhau, nhằm trốn tránh lệnh truy nã của cơ quan có th m quyền. Đến ngày 01/3/2019, bị cáo T tr về đầu thú t i Công an huyện C, đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội như nội dung đã trình bày trên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2019/HS-ST ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân huy n C đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T ph m tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung 2017;
X ph t bị cáo Nguyễn Minh T 08 (tám) năm tù. Thời h n tù tính từ ngày 01/3/2019.
Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu án phí dân sự sơ th m là 3.190.000đ.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên trách nhi m dân sự,
ý vật ch ng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo uật định.
Ngày 01 tháng 7 năm 2019, bị cáo Nguyễn Minh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t tù, lý do bị cáo cho rằng mức án sơ th m nặng.
Ngày 05/7/2019, Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân huyện C có Quyết định kháng nghị phúc th m số 01/QĐ-VKS-HCL, đề nghị s a bản án sơ th m phần án phí dân sự theo hướng tăng mức chịu án phí dân sự sơ th m.
T i phiên tòa, đ i diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh giữ nguyên kháng nghị và bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
Đ i diện Viện kiểm sát Tỉnh phát biểu quan điểm: Viện kiểm sát cho rằng khi tính án phí dân sự sơ th m, Hội đồng t sơ th m chỉ tính án phí trên số tiền buộc bị cáo bồi thường dân sự, chứ không tính phần án phí của khoản tiền bồi thường mà hai bên thỏa thuận t i phiên tòa. Việc tính án phí dân sự như án sơ th m là không đúng với Điều 23 và điểm b tiểu m c 1.3 m c 1 phần II danh m c ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội gây thiệt h i cho Nhà nước nên Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng t phúc th m em t s a bản án sơ th m, tăng mức chịu án phí dân sự sơ th m trên tổng số tiền bồi thường là 125.674.000đ (cả phần thỏa thuận được và không thỏa thuận được).
Đối với kháng cáo in giảm nhẹ hình ph t tù của bị cáo, Viện kiểm sát cho rằng khi lượng hình, cấp sơ th m đã em t đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ mà bị cáo đã được hư ng, trên cơ s phân tích tính chất, mức độ, thủ đo n ph m tội cũng như hậu quả do hành vi ph m tội của bị cáo gây ra, nguyên nhân điều kiện dẫn đến ph m tội, đồng thời nhân thân bị cáo là người có tiền án, tiền sự nên cấp sơ th m tuyên ph t bị cáo Nguyễn Minh T 08 năm tù là đúng pháp luật. Ngoài ra, mức hình ph t áp d ng đối với bị cáo T là nằm trong khung hình ph t nhưng án sơ th m ghi nhận trong phần nhận định của Tòa án áp d ng Điều 54 là có nhầm lẫn, đề nghị Hội đồng t chỉnh s a cho phù hợp. Từ đó, đ i diện Viện kiểm sát Tỉnh đề nghị Hội đồng t căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật tố t ng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ y án sơ th m về mức hình ph t tù đối với bị cáo Nguyễn Minh T.
Bị cáo Nguyễn Minh T không có phát biểu tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo yêu cầu Hội đồng t phúc th m em t giảm nhẹ một phần hình ph t tù cho bị cáo để sớm về đoàn t với gia đình.
N N N
N:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:
[1] Bị cáo Nguyễn Minh T thừa nhận thực hiện hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị h i Võ Thị Xuân Tr với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 49%. Do đó, án sơ th m kết tội bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng mức án 08 năm tù của cấp sơ th m ph t là quá nặng, nên bị cáo T kháng cáo in giảm nhẹ hình ph t. Hội đồng t
t thấy, hành vi ph m tội của bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội và gây tổn thương đến sức khỏe của người bị h i một cách rất nghiêm trọng, nguyên nhân ph m tội của bị cáo là do tư thù cá nhân, hành động ph m tội là quyết liệt đến cùng, ph m tội có dự mưu trước, sau khi ph m tội bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra, lần ph m tội này của bị cáo là tái ph m, bản thân bị cáo đã có tiền sự. Khi lượng hình, cấp sơ th m đã em t đầy đủ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ mà bị cáo đã được hư ng và phải chịu, mức án sơ th m tuyên là có căn cứ, đúng với tính chất, mức độ ph m tội và hậu quả do hành vi ph m tội của bị cáo gây ra. Bị cáo kháng cáo in giảm nhẹ hình ph t nhưng không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ nào mới, cho nên cấp phúc th m căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ th m về hình ph t tù đối với bị cáo Nguyễn Minh T là có cơ s , đúng quy định pháp luật.
[2] X t lời đề nghị của Viện kiểm sát cho rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho ã hội, mức án sơ th m tuyên là có căn cứ đúng với mức độ cũng như tính chất ph m tội mà bị cáo đã thực hiện, mức án 08 năm tù là tương ứng với tính chất, mức độ ph m tội của bị cáo. T i phiên tòa phúc th m, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới, cho nên không có căn cứ để em t giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo. Từ cơ s đó, Kiểm sát viên yêu cầu HĐXX bác kháng cáo in giảm nhẹ hình ph t của bị cáo, giữ y án sơ th m về hình ph t tù, lời đề nghị này của Viện kiểm sát là có căn cứ cần chấp nhận.
[3] X t kháng nghị của Viện kiểm sát đề nghị s a bản án sơ th m về mức chịu án phí dân sự sơ th m. Hội đồng t xét thấy: Số tiền bị cáo bồi thường thiệt h i sức khỏe cho bị h i Võ Thị Xuân Tr bao gồm: khoản thỏa thuận được t i phiên tòa là 61.874.000đ (chi phí điều trị thương tích; tiền thu nhập thực tế của người nuôi bệnh) cộng với số tiền 63.800.000đ (tổn thất tinh thần và tiền công lao động của bị h i) mà bị h i và bị cáo không thỏa thuận được nhưng có đủ căn cứ để buộc bị cáo bồi thường, tổng số bị cáo phải bồi thường cho bị h i Võ Thị Xuân Tr là 125.674.000đ (thỏa thuận được 61.874.000đ + không thỏa thuận được 63.800.000đ = 125.674.000đ), đây là số tiền bồi thường dân sự phải chịu án phí dân sự sơ th m, nhưng bản án sơ th m chỉ tuyên án phí dân sự sơ th m trên số tiền 63.800.000đ, mà không tính phần án phí của số tiền 61.874.000đ mà bị cáo và bị h i đã thỏa thuận được t i phiên tòa. Việc tính án phí dân sự như án sơ th m là vi ph m quy định đo n thứ 02 điểm f khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, c thể có quy định “T i phiên tòa, đương sự, bị cáo thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt h i thì họ phải chịu án phí dân sự sơ th m như trường hợp Tòa án đưa ra t v án đó”. Cho nên, kháng nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ cần phải được chấp nhận toàn bộ, s a bản án sơ th m phần án phí, tăng mức chịu án phí dân sự sơ th m.
Ngoài ra nhận thấy rằng, án sơ th m tuyên buộc bị cáo Nguyễn Minh T bồi thường thiệt h i sức khỏe cho bị h i Võ Thị Xuân Tr chia ra hai phần gồm phần thỏa thuận được và phần không thỏa thuận được là chưa đảm bảo đúng nguyên t c và gây khó hiểu, trong trường hợp c thể này phải tổng hợp tất cả các khoản bồi thường để tuyên bị cáo bồi thường cho bị h i mới chính ác. Bên c nh đó, trong phần nhận định áp d ng tình tiết tăng nặng quy định t i điểm e, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Minh T nhưng Tòa án cấp sơ th m có sự nhầm lẫn khi ghi nhận Điều 54, đây là sai sót không nghiêm trọng nhưng cấp sơ th m cần nghiêm túc rút kinh nghiệm. Vì vậy cấp phúc th m cần phải điều chỉnh cách tuyên về trách nhiệm dân sự của bản án sơ th m cho phù hợp.
[4] Các phần khác của quyết định án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết h n kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc th m.
Án phí sơ th m bị s a theo hướng tăng mức chịu án phí dân sự sơ th m như kháng nghị của Viện kiểm sát huyện C nên bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ th m trên số tiền bị cáo bồi thường là 125.674.000đ.
Vì các lẽ trên,
Q YẾ
N :
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố t ng hình sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo in giảm nhẹ hình ph t tù của bị cáo Nguyễn Minh T, giữ nguyên phần quyết định bản án sơ th m số: 22/2019/HS-ST ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện C về hình ph t tù.
2. Chấp nhận kháng nghị của Viện trư ng Viện kiểm sát nhân dân huyện C, s a án sơ th m về phần án phí dân sự sơ th m, tăng mức án phí dân sự sơ th m của bản án sơ th m số: 22/2019/HS-ST ngày 21/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện C.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T ph m tội “Cố ý gây thương tích”.
X ph t: Bị cáo Nguyễn Minh T 08 (tám) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày 01/3/2019.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 590 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải bồi thường cho bị h i Võ Thị Xuân Tr số tiền 125.674.000đ (Một trăm hai mươi ăm tri u sáu trăm bảy mươi bốn ngàn đồng) gồm các khoản thỏa thuận được 61.874.000đ (chi phí điều trị thương tích, tiền thu nhập thực tế của người nuôi bệnh) + không thỏa thuận được 63.800.000đ (tổn thất tinh thần và tiền công lao động của bị h i) = 125.674.000đ).
Đối với tiền bồi thường khi có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định t i khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành xong.
4. Về án phí: Căn cứ vào điểm f khoản 1 Điều 23 và điểm b tiểu m c 1.3 m c 1 phần II danh m c kèm theo của Nghị Quyết 326/2016UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc th m và 6.284.000đ án phí dân sự sơ th m.
5. Các phần khác của quyết định bản án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
M
N
M N i nh n:
M
N
M
t
hẩm hán - hủ tọa hiên tòa
- V iám đốc kiểm tra 1 - TANDTC;
T M
N –
N
- VKSND Tỉnh;
- Ban Nội chính Tỉnh ủy;
- S Tư pháp Tỉnh;
- TAND - VKSND H. C;
- Chi c c TH DS H. C;
(Đã ký)
- Cơ quan CSĐT C H. C;
- Cơ quan TH HS C H. C;
- Tr i T m giam Công an Tỉnh;
- Phòng hồ sơ nghiệp v Công an Tỉnh;
- Phòng KTNV-TH T Tỉnh;
- Bị cáo;
Nguyễn hị Mai
- Lưu: VT, HSVA (Tr).
rương hước