- Tranh chấp gì? án hình sự — "thân văn T "vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông…"
- Tòa quyết gì? 1, Tuyên bố bị cáo Thân Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ B TỈNH B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 196/2018/HS-ST Ngày 29 - 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THNH PHỐ B
- THnh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Mạnh Tiến
Ông Trịnh Văn Nhất
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân tHnh phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố B tham gia phiên toà: Ông Đoàn Thế Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tHnh phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 165/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 177/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2018/QĐST-HS ngày 14/11/2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Thân Văn T, sinh năm 1987; tên gọi khác: Không; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn V, xã T, tHnh phố B, tỉnh B; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Thân V, sinh năm 1965 và bà Dương Thị H, sinh năm 1969; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Đào Thị P, sinh năm 1991, con: có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: Bản án số 36/2018/HSST ngày 12/4/2018 của Tòa án nhân dân tHnh phố B xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2018.
Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo Thân Văn T:
1. Ông Trần Thanh B, sinh năm 1963 - Trợ giúp viên pháp lý (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án)
Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý NH nước tỉnh B.
2. Ông Hoàng Trọng N, sinh năm 1985 - Trợ giúp viên pháp lý (Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án)
Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý NH nước tỉnh B.
* Bị hại:
- Anh Lưu Xuân S, sinh năm 1983 (đã chết)
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh B.
Người đại diện hợp pháp của anh S:
1. Ông Lưu Xuân S, sinh năm 1957 (Có mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh B.
2. Bà Đỗ Thị T, sinh năm 1962 (Có mặt)
Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh B.
3. Chị Đoàn Thị Ngọc M, sinh năm 1990 (Có mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố T, phường Đa M, tHnh phố B, tỉnh B.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T và chị M: Ông Lưu Xuân S.
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện Q, tỉnh N.
* Người có quyền lợi, N vụ liên quan:
- Anh Vũ Văn L, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện Q, tỉnh N.
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn P, xã P, huyện Q, tỉnh N.
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1973 (Vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xử
vắng mặt)
Địa chỉ: số nH 35, ngõ 26, đường Lê Lý, phường Hoàng Văn Thụ, tHnh phố B, tỉnh B.
* Người chứng kiến: Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Tân S, xã Hùng S, huyện Hiệp Hòa, tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thân Văn T sinh năm 1987, trú tại thôn V, xã T, tHnh phố B, tỉnh B là lái xe thuê cho anh Nguyễn Văn H sinh năm 1973, trú tại số nH 35, ngõ 26, đường Lê Lý, phường Hoàng Văn Thụ, tHnh phố B (T có giấy phép lái xe hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 15/10/2015).
Khoảng 20 giờ ngày 12/12/2015, Thân Văn T đi bộ đến nH bạn là Dương Văn Hòa sinh năm 1987, trú tại thôn V, xã T, tHnh phố B ăn cơm đầy tháng con anh Hòa. Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày thì T điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu HOWO, S màu xanh, biển kiểm soát 98C- 038.57 một mình từ thôn V, xã T, tHnh phố B đi sang xã Nội Hoàng, huyện Y, tỉnh B để cất xe. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày 12/12/2015, T điều khiển xe ô tô đi trên đường tỉnh 293 theo hướng Lục Nam đi Quốc Lộ 1A. Khi đi đến ngã tư giao cắt giữa đường tỉnh 293 với Quốc lộ 1A thì xe ô tô do T điều khiển đã va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Future, màu S đen-xám-bạc, biển kiểm soát 98M6- 9807 do anh Lưu Xuân S sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh B điều khiển phía trước cùng C đang dừng chờ hết đèn đỏ. Hậu quả làm xe mô tô 98M6- 9807 đổ, anh S ngã ra đường bị bánh xe bên phải của xe ô tô 98C- 038.57 chèn đè qua người làm anh S bị chết tại chỗ. Sau khi gây tai nạn, T điều khiển xe bỏ chạy theo Quốc lộ 1A đi về hướng tHnh phố H Nội. Khi đi qua cầu Xương Giang đến đoạn đường thuộc địa phận thôn Đồng Sau, xã Đồng S, tHnh phố B, T điều khiển xe ô tô đi lấn sang phần đường bên trái va chạm với xe ô tô tải nhãn hiệu Hyundai, màu S trắng, biển kiểm soát 99C- 033.46 do anh Nguyễn Văn T sinh năm 1986 trú tại thôn Phấn Trung (nay là thôn P), xã P, huyện Q, tỉnh N điều khiển đi ngược C. Hậu quả làm anh T và anh Vũ Văn L sinh năm 1995, trú tại thôn Phấn Trung (nay là thôn P), xã P, huyện Q, tỉnh N đang ngồi ghế phụ bị thương nhẹ, xe ô tô biển kiểm soát 99C- 033.46 và xe ô tô biển kiểm soát 98C-038.57 bị hư hỏng nặng. Còn T bị thương nặng được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B và Bệnh viện Việt Đức- H Nội.
Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tHnh phố B đã khám nghiệm hiện T, khám nghiệm phương tiện và trưng cầu giám định. Kết quả cụ thể như sau:
*Kết quả khám nghiệm hiện T nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại nơi giao nhau giữa đƣờng tỉnh 293 với Quốc lộ 1A:
- Hiện T vụ tai nạn là nơi giao nhau giữa đường tỉnh 293 với Quốc lộ 1A, hai bên đường cắm cột đèn tín hiệu giao thông, đoạn đường được trải nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 8m.
- Chọn cột đèn tín hiệu bên phải đường theo C đi từ đường tỉnh 293 ra Quốc lộ 1A làm điểm mốc, phải trái tính từ tính từ đường tỉnh 293 đi ra Quốc lộ 1A làm chuẩn để khám nghiệm. Dấu vết trên hiện T được đánh số thứ tự: ký hiệu (1) là xe mô tô biển kiểm soát 98M6- 9807; ký hiệu (2) là vị trí vết cày xước và mài sát cao su trên mặt đường; ký hiệu (3) là nạn nhân; ký hiệu (4), (5) là vết phanh.
- Xe mô tô biển kiểm soát 98M6- 9807 đổ bên trái xuống mặt đường, đầu xe chếch hướng Đông Bắc, đuôi xe chếch hướng Tây Nam; Trục bánh trước xe mô tô cách điểm mốc và mép bên phải đường 293 lần lượt là 11,75m và 3,3m; trục bánh sau xe cách mép đường 293 là 4,35m.
- Vết cày xước mặt đường dạng đứt quãng và mài sát cao su dài 1,85m, đầu vết chếch hướng đi đường tỉnh 293 và cách mép phải đường tỉnh 293 là 3,65m cuối vết cày xước kết thúc tại để chân trước bên trái xe mô tô biển kiểm soát 98M6- 9807.
- Nạn nhân nằm úp trên mặt đường, đỉnh trán cách trục bánh sau xe mo tô 98M6- 9807 và mép phải đường tỉnh 293 lần lượt là 1,7m và 5,15m. Đo khoảng cách từ gót bàn chân phải, chân trái đến mép phải đường tỉnh 293 lần lượt là 3,8m và 4,15m.
- Vết phanh kép hướng từ đường tỉnh 293 đi đường Quốc lộ 1A cong chếch theo hướng đi H Nội; vết phanh (4), (5) là Sg Sg kích thước (9,5x0,52)cm và (3x0,52)cm; đo khoảng cách từ điểm cuối vết phanh ký hiệu (4) đến mép bên phải đường 293, đến điểm cuối vết phanh ký hiệu (5) và đến điểm đầu vết cày xước kí hiệu (2) lần lượt là 4,9m; 2,4m và 2,8m. Đầu vết phanh kí hiệu (4) cách mép phải đường 293 và đầu vết phanh ký hiệu (5) lần lượt là 3,05m và 6,15m; Điểm cuối vết phanh ký hiệu (5) cách mép phải đường 293 và điểm đầu vết cày xước ký hiệu (2) lần lượt là 2,7m và 3,3m. Điểm đầu vết phanh ký hiệu (5) cách mép phải đường 293 là 1,85m.
* Kết quả khám nghiệm hiện T nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông tại Quốc lộ 1A:
- Nơi xảy ra tai nạn là km118+050m Quốc lộ 1A thuộc địa phận xã Đồng S, tHnh phố B; đoạn đường thẳng phẳng, mặt đường trải nhựa bằng phẳng, đường rộng 14m. Chọn cột biển báo chỉ dẫn “Cầu Xương Giang-km 117+900m” nằm bên trái Quốc lộ 1A theo hướng Lạng S đi H Nội làm mốc; phải trái Quốc lộ 1A tính theo C Lạng S đi H Nội làm chuẩn để khám nghiệm. Dấu vết trên hiện T được đánh số thứ tự: ký hiệu (1) là xe ô tô biển kiểm soát 99C-033.46; ký hiệu (2) là xe ô tô biển kiểm soát 98C-038.57; ký hiệu (3) là vết máu; ký hiệu (4) là đám vỡ, dầu máy; (5) là vết bánh xe.
- Xe ô tô biển kiểm soát 99C- 033.46 đỗ trên mặt đường, đầu xe chếch hướng Lạng S, đuôi xe chếch hướng H Nội, đo khoảng cách từ tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô 99C- 033.46 đến mép bên phải đường Quốc lộ 1A lần lượt là 10,4m và 10m. Đo khoảng cách từ tâm trục bánh trước bên phải xe ô tô 99C-033.46 đến cột biển chỉ dẫn làm mốc là 14,3m.
- Xe ô tô biển kiểm soát 98C- 038.57 đỗ trên mặt đường, đầu xe chếch hướng H Nội, đuôi xe chếch hướng Lạng S. Đo khoảng cách từ tâm trục bánh trước và tâm trục bánh cuối cùng bên phải xe ô tô 98C- 038.57 đến mép đường Quốc lộ 1A lần lượt là 11,9m và 8,7m. Đo khoảng cách từ tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô 98C-038.57 đến tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô 99C- 033.46 là 11,6m.
- Dấu vết máu để lại trên mặt đường, nằm chếch đầu xe ô tô biển kiểm soát 99C- .33.46 về phía Lạng S, vết máu kích thước (0,3x0,2)m, tâm vết máu cách mép phải đường Quốc lộ 1A là 09m và cách tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô 99C-033.46 là 2,4m.
- Đám vỡ, dầu máy nằm rải rác từ đầu vị trí đầu xe ô tô 99C- 033.46 tới đầu xe ô tô 98C- 038.57, đám vỡ, dầu máy có kích thước (20x5)m, tâm đám vỡ cách tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô 99C- 033.46 là 5m, cách mép đường bên phải đường Quốc lộ 1A là 9,4m.
- Vết bánh xe để lại trên mặt đường do bánh xe phía sau cùng bên trái xe ô tô 98C- 038.57 để lại, kéo dài đến vị trí xe ô tô 98C- 038.57 đỗ, vết bánh xe có C từ Lạng S đi H Nội kích thước (5,4x0,51)m. Điểm cuối vết bánh xe kết thúc tại vị trí bánh xe cuối cùng bên trái xe ô tô 98C- 038.57 đỗ trên mặt đường; điểm đầu vết bánh xe cách tâm đám vỡ, dầu máy là 5m; cách mép đường bên phải Quốc lộ 1A là 9,1m.
* Kết quả khám nghiệm xe mô tô BKS 98M6-9807, nhãn hiệu HONDA FUTURE, màu S đen- xám- bạc do anh Lƣu Xuân S điều khiển:
- Chắn bùn trước bánh trước bị vữa nhựa, mặt trước ốp kim loại bảo vệ chắn bùn trước bên trái mài sát, kim loại kích thước (3x0,4)cm. Mặt nạ trước bên trái tại vị trí cách đất 80cm, cách sườn trái xe 11cm có vết mài sát nhựa. Gương cH hậu bên phải gẫy khuyết. Gương cH hậu bên trái cong vênh, biến dạng, vỡ mặt gương. Đầu tay nắm bên trái có vết mài sát, bẹp lõm kim loại.
- Phần nhựa sườn xe bên trái có vết mài sát S nhựa, hướng từ trên xuống dưới. Gãy khuyết để chân sau bên trái. Để chân trước bên trái có vết mài sát, cong vênh kim loạ áp sát vào lốc máy. Đầu cao su để chân trước bên trái có vết mài sát cao su, đèn hậu vỡ khuyết. Cạnh bên phải la răng bánh sau có vệt kim loại bám dính màu đen nghi cao su kích thước (13x3)cm. Phần đuôi xe còn lại mẩu nhựa màu đỏ của ốp đèn hậu được bắt vít vào đuôi xe. Phần nhựa sườn xe bên phải gẫy vỡ và có vết rách ni lông dán xe kích thước (7x1)cm. Giảm sóc sau hai bên bị cong vênh kim loại, ép vào bánh sau, gãy rời ống xả.
* Kết quả khám nghiệm xe ô tô nhãn hiệu HOWO, màu S xanh, biển kiểm soát 98C- 038.57 do Thân Văn T điều khiển:
- Bên trái đầu xe có vết cong vênh biến dạng kim loại, rách nhựa, cao su hướng từ trước ra sau. Lốp bánh trước bên trái có vết rách thủng. THnh thùng xe bên trái bẹp lõm, trượt xước kim loại, hướng từ trước ra sau bám dính chất màu trắng. Giá bảo vệ tHnh thùng xe bên trái cong vênh, biến dạng kim loại. Cạnh ngoài lốp bánh trước bên phải có vết trượt xước cao su, kích thước (10x14)cm, trên vết này có vết rách cao su dài 70cm.
- Đầu ốc trục giảm giật bên phải có bám dính chất màu trắng đục nghi nhựa tại vị trí cách đất 45cm. Bậc lên xuống bên phải cabin có vết cong vênh kim loại hướng từ trước ra sau, tại vị trí cách đất 14cm. Phần nhựa ốp xung quanh bậc lên xuống bên phải cabin gãy vỡ.
* Kết quả khám nghiệm xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, màu S trắng, biển kiểm soát 99C- 033.46 do anh Nguyễn Văn T điều khiển:
- Phần đầu xe bên trái bị vỡ khuyết, cong vênh, bẹp méo, biến dạng nhựa, kim loại. Bánh trước bên trái rách thủng. Cạnh tHnh thùng xe bên trái bẹp lõm, trượt xước kim loại, hướng từ trước ra sau bám dính chất màu xanh nghi S.
- Cạnh dưới tHnh thùng xe bên trái cách đất 1,22m, Giá bảo vệ gầm xe bên trái cong vênh, biến dạng kim loại hướng từ trước ra sau.
*Kết quả khám nghiệm tử thi anh Lƣu Xuân S:
- C dài tử thi 168cm, thể trạng phát triển B thường, đang trong giai đoạn mềm lạnh. Vùng đầu mặt biến dạng, dẹt theo C trước sau. Vùng từ mắt trái, trán, đỉnh và chẩm có vết thương rách da phức tạp, sâu thông vào trong hộp sọ kích thước (15x11)cm. Vỡ nát xương hộp sọ, tổ chức não vỡ nát thoát ra ngoài. Vùng cổ trái, tai trái và má trái có vết chợt da kích thước (26x17)cm, gẫy nát toàn bộ xương vùng mặt; trật, gẫy các đốt sống cổ.
- Vùng ngực trái và vai trái có vết chợt da kích thước (23x22)cm, ấn lồng ngực trái ọp ẹp; gẫy xương đòn trái; gẫy xương sườn số 2, 3, 4, 5, 6 bên trái. Ngực phải có vết bầm tím kích thước (17x14)cm; tràn khí dưới da; gẫy xương sườn số 3, 4, 5 bên phải; bụng có đám chợt da kích thước (16x14)cm. Mu tay và các ngón tay trái có đám chợt da kích thước (13x9)cm. Kẽ ngón 1, 2 bàn tay phải có vết thương rách da kích thước (4x1)cm.
- Gối phải có vết chợt da kích thước (3x2)cm; gối trái có 02 vết chợt da kích thước (3x2)cm và (2,5x1,5)cm. Mặt ngoài cẳng chân trái có vết chợt da kích thước (32x9)cm; mặt ngoài cổ chân trái có vết chợt rách da kích thước (10x6)cm.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 2817/15/GĐPY ngày 13/12/2015, Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận: anh Lưu Xuân S chết đa chấn thương do tai nạn giao thông.
Tại Bản kết luận giám định số 10/KL- PC54 ngày 05/01/2016, Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh B kết luận như sau:
“- Hệ thống các dấu vết gẫy vỡ phần nhựa đuôi xe, sườn xe bên phải, đèn hậu; biến dạng giảm sóc sau hai bên, gẫy rời ống xả; dấu vết trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen (nghi cao su) ở cạnh bên phải la răng bánh sau trên xe mô tô 98M6- 9807 là do va chạm với mặt lăn lốp bánh trước bên phải của xe ô tô 98C-038.57 tạo nên, khi xe mô tô bị đổ nghiêng trái trên mặt đường và xe ô tô chuyển động từ sau tới.
- Dấu vết rách ni lông dán xe ở phần nhựa sườn xe bên phải của xe mô tô 98M6- 9807 là do va chạm với vị trí dấu vết bám dính chất màu trắng đục nghi nhựa ở đầu ốc trục giảm giật bên phải xe ô tô 98C- 038.57 tạo nên.
- Các dấu vết mài sát, vỡ khuyết nhựa, cao su, kim loại ở cạnh bên trái xe mô tô 98M6- 9807: phần nhựa đầu xe, sườn xe, chắn bùn bánh trước, đầu tay lái, để chân trước, gẫy khuyết để chân sau bên trái là do quá trình xảy ra va chạm với xe ô tô 98C-038.57, xe mô tô bị đè nén, kéo rê trên mặt đường, các vị trí trên tiếp xúc với mặt đường tạo nên, đồng thời để lại dấu vết cày xước mặt đường tương ứng.
- Xe mô tô 98M6- 9807 và xe ô tô 98C- 038.57 va chạm với nhau tại khu vực trước điểm đầu dấu vết cày xước mặt đường và mài sát cao su trên đường 293, thuộc phần đường bên phải (theo hướng đường 293 đi Quốc lộ 1A).
- Các dấu vết vỡ khuyết, cong vênh, bẹp méo, biến dạng nhựa, thủy tinh, cao su, kim loại ở đầu xe bên trái, tHnh thùng xe bên trái, giá bảo vệ gầm xe bên trái trên xe ô tô 98C- 038.57 với các dấu vết vỡ khuyết, cong vênh, bẹp méo, biến dạng nhựa, thủy tinh, cao su, kim loại ở đầu xe bên trái, tHnh thùng xe bên trái, giá bảo vệ gầm xe bên trái; rách thủng bánh trước bên trái trên xe ô tô 99C- 033.46 phù hợp với quá trình hai phương tiện chuyển động ngược C, các vị trí trên va chạm với nhau tạo nên.
- Xe ô tô 98C- 038.57 và xe ô tô 99C- 033.46 va chạm với nhau tại khu vực trước điểm đầu dấu vết máu và các mảnh nhựa, kim loại, kính vỡ, dầu máy trên hiện T, thuộc phần đường bên trái (theo hướng Lạng S đi H Nội).
- Không đủ căn cứ để xác định vết phanh trên đường 293 là do bánh xe ô tô 98C- 038.57 để lại.
- Không đủ căn cứ để xác định tốc độ của các phương tiện liên quan trong vụ tai nạn giao thông trên”.
Ngày 29/12/2015, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tHnh phố B đã trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ công an giám định dấu vết hóa. Tại kết luận giám định số 11687/PC54(P4) ngày 05/02/2016, Viện khoa học hình sự Bộ công an kết luận: Chất màu ghi trắng bám dính ở mép trước ngoài bậc lên xuống bên phải cabin xe ô tô BKS 98C- 038.57 gửi giám định không cùng loại với mảnh kim loại màu ghi trắng ghi thu của giá đèo Hng ở đuôi xe mô tô BKS 98M6- 9807 gửi làm mẫu so sánh.
Sau khi xảy ra tai nạn, Thân Văn T được cấp cứu điều trị tại Bệnh viện Việt Đức H Nội từ ngày 13/12/2015 đến 21/12/2015 chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh B tiếp tục điều trị. Tại bản trích sao bệnh án số 3328 ngày 10/8/2017, Bệnh viện Việt Đức H Nội xác nhận tình trạng thương tích của Thân Văn T khi vào viện như sau: 02 vết thương trán phải + thái dương phải 01cm. Vết thương mi trên phải 04cm. Vết thương mặt trước cẳng tay phải 02cm; vết thương mặt trước khuỷu trái 04x02cm, mặt sau khuỷu trái 3x3cm. Cơ lực 2 tay 4/5, liệt hai chi dưới. CT Scanner sọ não: Chảy máu khoang dưới nhện trong một số rãnh cuộn não bán cầu não phải, đụng dập tụ khí dưới da đầu vùng trán. CT Scanner cột sống cổ: Vỡ C5 C6.
Ngày 02/11/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tỉnh B đã trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh B giám định pháp y tâm thân đối với Thân Văn T. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 8005/17/TgT ngày 01/12/2017, Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận: Thân Văn T không liệt vận động và thần kinh sọ não, nhận thức được chậm.
Đối với anh Nguyễn Văn T và anh Vũ Văn L bị thương nhẹ không yêu cầu giám định thương tích và yêu yêu cầu bồi thường gì đối với thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.
Ngày 15/01/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tHnh phố B đã trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tHnh phố B định giá thiệt hại tài sản chiếc xe ô tô biển kiểm soát 99C- 033.46. Tại kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG ngày 15/01/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tHnh phố B kết luận: thay thế phụ tùng xe ô tô biển kiểm soát 99C- 033.46, cụ thể như sau:
- Thay ba đờ sốc trước, thay bóc lái có giá trị là: 11.800.000 đồng.
- Thay ca bin có giá là: 75.000.000 đồng.
- Thay lốp trước có giá trị là: 10.800.000 đồng.
- Thay thùng dầu có giá trị là: 2.600.000 đồng.
- Thay thùng đồ nghề có giá trị là: 2.000.000 đồng.
- Thay lá nhíp cái đằng sau có giá trị là: 1.000.000 đồng.
- Thay cửa thùng bên lái có giá trị là: 20.000.000 đồng.
- Gò nắm thùng, thay bạt có giá trị là: 3.000.000 đồng.
- Tán mỏ nhíp sau, công thợ chỉnh cầu có giá trị là: 1.500.000 đồng.
- Công, vật tư, sửa điện có giá trị là: 1.800.000 đồng.
- Bơm gia điều hòa có giá trị là: 65.000 đồng.
Tổng tài sản thiệt hại của xe ô tô 99C- 033.46 là: 129.565.000 đồng.
Ngày 14/5/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tHnh phố B đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tHnh phố B định giá thiệt hại tài sản của chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98M6- 9807. Tại kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐG ngày 15/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tHnh phố B kết luận: xe mô tô 98M6- 9807 bị thay thế, sửa chữa như sau:
* Thay thế phụ tùng xe mô tô 98B6- 9807 là: 5.270.000 đồng gồm:
- 01 chiếc rè có giá trị là: 240.000 đồng.
- 01 chiếc ốp sườn trái có giá trị là: 320.000 đồng.
- 01 chiếc ốp sờn phải có giá trị là: 320.000 đồng.
- 01 chiếc thùng yên (cốp để đồ) có giá trị là: 210.000 đồng.
- 01 chiếc củ đèn hậu có giá trị là: 450.000 đồng.
- 01 chiếc bóng đèn hậu có giá là: 30.000 đồng.
- 01 chiếc bóng đèn xi nhan có giá trị là: 20.000 đồng.
- 01 chiếc vành sau có giá trị là: 420.000 đồng.
- 01 đôi ti giảm sóc sau có giá trị là: 380.000 đồng.
- 01 chiếc chân chống giữa có giá trị là: 240.000 đồng.
- 01 chiếc tay xách có giá trị là: 280.000 đồng.
- 01 chiếc càng sau có giá trị là: 500.000 đồng.
- 01 chiếc máy chận gập có giá trị là: 280.000 đồng.
- 01 chiếc biển số có giá trị là: 50.000 đồng.
- Gương xe có giá trị là: 90.000 đồng.
- Mua rùa có giá trị là: 80.000 đồng.
- Cổ bô có giá trị là: 150.000 đồng.
- Gáy xe có giá trị là: 130.000 đồng.
- 01 chiếc yên bọc có giá trị là: 80.000 đồng.
- 01 chiếc trục chân chống giữa có giá trị là: 40.000 đồng.
- Tem dán có giá trị là: 280.000 đồng.
- Ắc quy có giá trị là: 270.000 đồng.
- Xăng có giá trị là: 50.000 đồng.
- Cao su chân gập có giá trị là: 30.000 đồng.
- Trục càng xe có giá trị là: 50.000 đồng.
*Công bảo dưỡng, sửa chữa xe mô tô 98M6-9807 là: 1.550.000 đồng:
- Nắn càng trước có giá trị là: 120.000 đồng.
- Nắm khung trước có giá trị là: 1.150.000 đồng.
- Nắm giàn để chân có giá trị là: 20.000 đồng.
- Nắm cần số có giá trị là: 20.000 đồng.
- Cân vành trước có giá là: 30.000 đồng.
- Nắm cần phanh có giá trị là: 40.000 đồng.
- Nắm hộp xích+S có giá trị là: 90.000 đồng.
- S ốp pha đèn có giá trị là: 80.000 đồng.
Tổng tài sản bị thay thế, sửa chữa là: 6.820.000 đồng.
Ngày 10/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an tHnh phố B đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tHnh phố B định giá thiệt hại tài sản của chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C- 038.57. Tại kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐĐG ngày 15/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản sản trong tố tụng hình sự tHnh phố B kết luận giá trị thiệt hại tài sản của chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C- 038.57 thay thế, sửa chữa như sau:
* Phụ tùng thay thế:
- 01 chiếc ca bin tổng tHnh xe HOWO, có giá trị là: 160.000.000 đồng.
- 01 chiếc ba đờ sốc trước có giá trị là: 3.500.000 đồng.
- 02 chiếc đèn pha có giá trị là: 02 chiếc x 800.000đồng/chiếc = 1.600.000 đồng.
- 04 chiếc đèn con có giá trị là: 4 chiếc x 300.000đồng/chiếc = 1.200.000 đồng.
- 02 chiếc bậc lên xuống có giá trị là: 2 chiếc x 500.000đồng/chiếc = 1.000.000 đồng.
- 01 chiếc ống cổ hút có giá trị là: 1.300.000 đồng.
- 02 chiếc cua lốp có giá trị là: 2 chiếc x 650.000đồng/chiếc = 1.300.000 đồng.
- 02 chiếc lốt bậc có giá trị là: 2 chiếc x 565.000đồng/chiếc = 1.130.000 đồng.
- 01 chiếc lốp trước có giá trị là: 8.000.000 đồng.
- 04 chiếc khóa chân ca bin có giá trị là: 4 chiếc x 1.556.000đồng/chiếc = 6.224.000 đồng.
- 01 giàn nóng điều hòa có giá trị là: 4.000.000 đồng.
- 01 giàn lạnh điều hòa có giá trị là: 4.200.000 đồng.
- 01 chiếc lốc điều hòa có giá trị là: 6.000.000 đồng.
- 01 chiếc hạ bố số xe có giá là: 1.000.000 đồng.
- 01 chiếc bộ số xe có giá trị là: 30.000.000 đồng.
* Gò Hn:
- Gò Hn đỡ chân ca bin bên lái + bên phụ có giá trị là: 2 chiếc x 1.200.000đồng/chiếc = 2.400.000 đồng.
- Gò nắn chân ca bin bên lái + bên phụ có giá trị là: 2 chiếc x 1.655.000đồng/chiếc = 3.310.000 đồng.
- Gò nắn khóa chân ca bị có giá trị là: 2 chiếc x 880.000đồng/chiếc = 1.760.000 đồng.
- Gò Hn giá bắt tổng phanh có giá trị là: 741.000 đồng.
- Hn khung xương sắt xi có giá trị là: 6.000.000 đồng.
- Gò nắn khung xương xe có giá trị là: 4.000.000 đồng.
- Hn sắt si bịt nứt có giá trị là: 980.000 đồng.
* Phần S: S ba đờ sốc xe có giá là: 900.000 đồng.
* Phần công: Công tháo lắp đồ hoàn chỉnh cho xe là: 30.000.000 đồng.
Tổng tài sản thiệt hại thay thế, sửa chữa xe ô tô biển kiểm soát 98C- 038.57 là: 280.545.000 đồng.
Quá trình điều tra, ngày 14/3/2016 anh Nguyễn Văn H là chủ xe ô tô biển kiểm soát 98C- 038.57 do T gây tai nạn đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình anh Lưu Văn S số tiền 70.000.000 đồng và bồi thường cho anh Nguyễn Văn H là chủ xe ô tô biển kiểm soát 99C- 033.46 số tiền 50.000.000 đồng tiền sửa chữa, thay thế xe hư hỏng. Đối với số tiền này anh H không yêu cầu bị cáo Thân Văn T phải hoàn trả cho anh nhưng anh H yêu cầu bị cáo Thân Văn T bồi thường thiệt hại hư hỏng, sửa chữa chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C- 038.57 với số tiền là: 280.545.000 đồng.
Anh Nguyễn Văn H là chủ xe ô tô biển kiểm soát 99C- 033.46 yêu cầu bị cáo Thân Văn T bồi thường thiệt hại tài sản bị hư hỏng là 129.565.000 đồng, anh H đã nhận được 50.000.000 đồng do anh H đứng ra bồi thường; nay anh H tiếp tục yêu cầu T bồi thường số tiền 79.565.000 đồng.
Gia đình anh Lưu Văn S yêu cầu bì can Thân Văn T bồi thường tổng số tiền 166.730.000 đồng, gia đình anh S đã nhận được 70.000.000 đồng anh H đứng ra bồi thường; đến nay gia đình anh S tiếp tục yêu cầu bị cáo Thân Văn T bồi thường số tiền 96.730.000 đồng.
Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu HOWO, S màu xanh, biển kiểm soát 98C-038.57; chiếc xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, màu S trắng, biển kiểm soát 99C-033.46; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu S đen-xám-bạc, biển kiểm soát 98M6- 9807 thu khi khám nghiệm hiện T; quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của anh H, anh H, anh S; ngày 18/3/2016, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Văn H, anh Nguyễn Văn H, ông Lưu V các tài sản trên.
Quá trình điều tra, Thân Văn T khai chỉ nhớ sau khi ở thôn V, xã T, T có điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C- 038.57 đi trên đường tỉnh 293 hướng về phía trung tâm tHnh phố B nhưng không nhớ xảy ra tai nạn như thế nào, khi tỉnh lại thì đang được điều trị tại Bệnh viện. Tuy nhiên căn cứ kết quả điều tra xác minh có đủ căn cứ chứng minh diễn biến Hnh vi phạm tội của Thân Văn T như đã nêu trên.
Cáo trạng số 177/CT-VKS ngày 09/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố B đã truy tố Thân Văn T về tội “Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm c, đ khoản 2 Điều 202 - Bộ luật hình sự 1999.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Thân Văn T một lần nữa khai nhận rõ Hnh vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu và trình bày: Bị cáo nhận thức Hnh vi ngày 12/12/2015 của mình là sai, vi phạm pháp luật. Hiện nay tình trạng sức khỏe của bị cáo vẫn còn yếu, bị cáo không thể tự làm được các công việc nặng, sau tai nạn trí nhớ của bị cáo cũng bị ảnh hưởng nhiều. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của gia đình anh Lưu Xuân S, anh Nguyễn Văn H và anh Nguyễn Văn H.
Đại diện hợp pháp của anh Lưu Xuân S là ông Lưu Xuân S trình bày: Ông là bố đẻ của anh Lưu Xuân S. Sau khi xảy ra tai nạn ngày 12/12/2015, gia đình ông mới nhận được 70.000.000 đồng do anh Nguyễn Văn H là chủ chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C-038.57 bồi thường. Ngày 21/7/2018, gia đình bị cáo T có bồi thường cho gia đình ông 30.000.000 đồng tiền M táng phí.
Đại diện hợp pháp của anh Lưu Xuân S là chị Đoàn Thị Ngọc M trình bày: Chị là vợ của anh S. Chị và gia đình yêu cầu bị cáo T phải bồi thường tổn thất tinh thần cho gia đình chị bằng 100 tháng lương cơ sở với số tiền 139.000.000 đồng; tiền M táng phí là 30.000.000 đồng; tiền sửa xe mô tô biển kiểm soát 98M6-9807 là 6.730.000 đồng; đóng góp tiền nuôi dưỡng cháu Lưu M Phương, sinh ngày 04/9/2014 (con gái của anh S) từ ngày 12/12/2015 đến khi cháu Phương đủ 18 tuổi với số tiền là 211.000.000 đồng. Gia đình bị cáo T đã bồi thường 30.00.000 đồng tiền M táng phí nên tổng số tiền chị và gia đình yêu cầu bị cáo T phải bồi thường là 356.730.000 đồng.
Bị hại là anh Nguyễn Văn T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: Anh là người lái xe thuê cho anh Nguyễn Văn H. Ngày 12/12/2015, anh được anh H giao lái chiếc xe ô tô biển kiểm soát 99C-033.46, nhãn hiệu Huyndai, S màu trắng, loại xe tải có mui chở giấy làm Hng mã từ tỉnh Tuyên Quang về giao cho khách mua ở chùa Vĩnh Nghiêm, huyện Y, tỉnh B. Cùng đi trên xe với anh khi đó có anh Vũ Văn L là người cùng thôn với anh. Trên đường đi đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi anh điều khiển xe ô tô đi trên đường quốc lộ 1A theo hướng H Nội đi Lạng S, đến đoạn gần cầu Xương Giang khi đó anh đang điều khiển xe đi lên cầu và đi ở phần đường bên phải thì anh quan sát thấy một chiếc xe ô tô đi theo C ngược lại (hướng Lạng S đi H Nội) với tốc độ rất nhanh và lao thẳng về phía xe của anh. Do khoảng cách lúc đó giữa xe ô tô của anh và xe ô tô đi ngược C kia quá gần chỉ khoảng 4 - 5 mét nên anh chỉ kịp nhoài người ra phía sau. Sau đó chiếc xe ô tô do anh điều khiển bị chiếc xe ô tô đi ngược C kia đâm thẳng vào phía đầu xe bên trái và trượt theo sườn bên trái chiếc xe ô tô của anh ra phía sau thì dừng lại. Sau khi xảy ra tại nạn anh và anh L bị choáng và được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Sau này anh được biết người điều khiển xe ô tô đâm vào xe ô tô của anh điều khiển là Thân Văn T nH ở xã T, tHnh phố B. Sau khi tai nạn xảy ra chiếc xe ô tô mà anh điều khiển bị hư hỏng toàn bộ phần đầu xe, cabin xe, hệ thống bánh trước bên trái, sườn xe bên trái, khung xe và một số bộ phận khác.
Người có quyền lợi, N vụ liên quan là anh Vũ Văn L vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: Ngày 12/12/2015, anh có đi theo xe ô tô biển kiểm soát 99C-033.46 do anh Nguyễn Văn T nH ở cùng thôn điều khiển đi từ tỉnh Tuyên Quang về tỉnh B. Trên đường đi thì anh ngồi ở bên ghế phụ cạnh anh T. Khoảng 22 giờ 30 phút đến 23 giờ cùng ngày, khi anh T điều khiển xe ô tô nói trên đi trên đường quốc lộ 1A mới theo hướng từ H Nội đi Lạng S, đến đoạn gần cầu Xương Giang thì anh thấy có một chiếc xe ô tô đi theo C ngược lại đi với tốc độ rất nhanh lao thẳng và đâm vào đầu xe ô tô do anh T điều khiển. Khi đó thấy sự việc xảy ra như vậy và do khoảng cách đã rất gần nên anh và anh T chỉ kịp nhoài người về phía sau. Sau đó anh và anh T bị choáng và bất tỉnh. Khi tỉnh lại anh đã thấy anh được mọi người đưa xuống ngồi ở rìa đường. Sau này anh được biết chiếc xe ô tô đâm vào xe của anh và anh T là xe ô tô biển kiểm soát 98C-038.57 S màu xanh và người điều khiển xe là Thân Văn T.
Người có quyền lợi, N vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H trình vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: Anh là chủ của chiếc xe ô tô biển kiểm soát 99C-033.46. Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 12/12/2015, anh Nguyễn Văn T là người lái xe thuê cho anh điều khiển chiếc xe trên đi chở Hng giấy làm Hng mã đi trên đường quốc lộ 1A theo hướng tHnh phố H Nội đi tỉnh Lạng S, đến đoạn gần cầu Xương Giang thì xảy ra tại nạn giao thông. Xe ô tô do anh T điều khiển bị một xe ô tô tải đi theo C ngược lại đâm vào. Sau này anh được biết xe ô tô đã đâm vào xe ô tô của anh do anh T điều khiển là xe ô tô biển kiểm soát 98C-033.46 do anh Thân Văn T điều khiển. Khi xảy ra tại nạn thì trên xe ô tô do anh T điều khiển còn có anh Vũ Văn L ngồi trên xe. Sau khi xảy ra tai nạn, xe ô tô biển kiểm soát 99C-033.46 của anh bị hư hỏng và phải sửa chữa hết 129.565.000 đồng. Anh đã được anh Nguyễn Văn H là chủ xe ô tô biển kiểm soát 98C-033.46 bồi thường số tiền 50.000.000 đồng. Nay anh yêu cầu bị cáo T phải bồi thường cho anh số tiền còn lại là 79.565.000 đồng.
Người có quyền lợi, N vụ liên quan là anh Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: Gia đình anh có chiếc xe ô tô tải, S màu xanh, biển kiểm soát 98C-033.46 sử dụng để kinh doanh vận tải. Ngày 10/12/2015, anh có thuê anh Thân Văn T lái chiếc xe ô tô đó chở đất từ xã Nội Hoàng, huyện Y, tỉnh B về đổ san lấp mặt bằng ở xã Tân Mỹ, tHnh phố B. Trong quá trình lái thuê chiếc xe ô tô trên cho anh ngày 12/12/2015 sau khi hết giờ làm việc buổi tối thì T đã lái chiếc xe ô tô trên của anh về nH T để sáng hôm sau đi làm tiếp. Khoảng 23 giờ cùng ngày anh đang ngủ ở nH thì nhận được tin báo từ công an tHnh phố B về việc xe ô tô của anh do T điều khiển đã gây ra tai nạn giao thông tại đường 293 thuộc xã T, tHnh phố B, hậu quả làm anh Lưu Xuân S tử vong và làm hư hỏng chiếc xe ô tô biển kiểm soát 99C-033.46 do anh Nguyễn Văn T điều khiển. Sau khi xảy ra tai nạn, anh đã đứng ra bồi thường cho gia đình anh Lưu Xuân S số tiền 70.000.000 đồng và bồi thường cho chủ chiếc xe ô tô biển kiểm soát 99C-033.46 số tiền 50.000.000 đồng. Nay anh yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thiệt hại hư hỏng, sửa chữa chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C-033.46 là 280.545.000 đồng.
Người chứng kiến là ông Hoàng Văn C vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra như sau: Anh là công nhân của gói thầu 2 thi công đường Quốc lộ 1A. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 12/12/2015 khi anh đang đi bộ trên đường 293, xã T, tHnh phố B để về lán công trình của gói thầu 2 đặt tại đầu đường 293. Khi anh đang đứng ở cột đèn tín hiệu giao thông đặt bên phải đường 293 theo C từ Trung tâm thương mại Big C về tHnh phố B, anh nhìn thấy một chiếc xe ô tô tải đang đi nhanh từ phía Trung tâm thương mại Big C về phía đèn đỏ nơi anh đang đứng theo C đi ra Quốc lộ 1A. Lúc đó có nhiều xe mô tô đang đứng đợi đèn đỏ. Chiếc xe ô tô tải kia không dừng lại mà lao thẳng về phía những chiếc xe mô tô trên. Ngay sau đó anh thấy chiếc xe ô tô tải này va chạm phần đầu xe bên phải với đuôi xe một chiếc xe mô tô do một người đàn ông đi một mình đang đứng đợi đèn đỏ. Khi xảy ra va chạm, xe mô tô bị đổ hướng vào trong lòng xe ô tô, người đàn ông lái xe mô tô bị ngã ra đường và bị bánh sau bên phải của xe ô tô tải đẹn lên người. Anh đi đến chỗ người đàn ông thì thấy người này đã tử vong. Sau khi va chạm, xe ô tô tải kia không dừng lại mà đi thẳng về phía đường quốc lộ 1A rồi rẽ trái đi về phía H Nội. Anh chỉ kịp nhìn thấy xe ô tô tải đó có biển số xe là 98C và hai số cuối là 57. Anh ở lại hiện T vụ tai nạn khoảng 10 phút thì lực lượng công an đến khám nghiệm hiện T. Ngay sau đó anh có nghe thông tin là có vụ tai nạn giao thông xảy ra ở phía bên kia đầu cầu Xương Giang. Anh tiếp tục đi sang đó thì thấy xảy ra vụ tai nạn giữa xe ô tô biển kiểm soát 98C-038.57 đầu xe hướng Lạng S đi H Nội với xe ô tô biển kiểm soát 99C-033.46 đầu xe hướng H Nội đi Lạng S. Anh nhận ra chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C-038.57 chính là chiếc xe ô tô tải đã gây ra va chạm với xe mô tô đứng đợi đèn đỏ trước đó.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
1, Tuyên bố bị cáo Thân Văn T phạm tội “Vi phạm quy dịnh về diều khiển phương tiện giao thông đường bộ”
2, Căn cứ điểm c, đ khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33, Điều 51 - Bộ luật hình sự 1999.
- Xử phạt bị cáo Thân Văn T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù của Bản án số 36/2018/HSST ngày 12/4/2018 của Tòa án nhân dân tHnh phố B, buộc bị cáo phải chấp Hnh hình phạt chung cho cả hai bản án từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2018.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 42 - Bộ luật hình sự 1999; Điều 585, Điều 589, Điều 591 - Bộ luật dân sự 2015.
- Buộc bị cáo Thân Văn T bồi thường 280.545.000 đồng tiền thiệt hại hư hỏng, sửa chữa chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C-033.46 cho anh Nguyễn Văn H.
- Buộc bị cáo Thân Văn T bồi thường 79.565.000 đồng tiền hư hỏng và sửa chữa xe ô tô biển kiểm soát 99C-033.46 cho anh Nguyễn Văn H.
- Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện hợp pháp của anh Lưu Xuân S: Bị cáo bồi thường cho gia đình anh Lưu Xuân S tổng số tiền là 356.820.000 đồng, trong đó: tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 139.000.000 đồng; tiền sửa xe mô tô biển kiểm soát 98M6-9807 là 6.820.000 đồng; đóng góp tiền nuôi dưỡng cháu Lưu M Phương, sinh ngày 04/9/2014 (con gái của anh S) từ ngày 12/12/2015 đến khi cháu Phương đủ 18 tuổi với số tiền là 211.000.000 đồng.
4. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 41 - Bộ luật hình sự 1999, khoản 2 Điều 76 - Bộ luật tố tụng hình sự 2003.
- Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe mang tên Thân Văn T.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2017 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
* Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố B.
* Ông Hoàng Trọng N - người bào chữa cho bị cáo tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố B:
- Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ là điểm b, p khoản 1 Điều 46 - Bộ luật hình sự 1999 nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 - Bộ luật hình sự 1999 cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt.
- Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng quy định tại Điều 601- Bộ luật dân sự 2015 buộc anh Nguyễn Văn H là chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ (chiếc xe do bị cáo điều khiển gây tai nạn) phải liên đới cùng bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi, N vụ liên quan.
* Chị Đoàn Thị Ngọc M - đại diện hợp pháp của anh Lưu Xuân S tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố B:
- Việc bị cáo khai tại phiên tòa là do bị cáo bị chấn thương sau vụ tai nạn nên không nhớ đã gây ra tại nạn cho anh S như thế nào, từ khi xảy ra tại nạn đến nay bị cáo chưa đến xin lỗi và bồi thường cho gia đình chị chứng tỏ bị cáo chưa tHnh khẩn khai báo, chưa ăn năn hối cải về Hnh vi phạm tội của mình. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị áp dụng là chưa thỏa đáng, quá nhẹ.
- Tại phiên tòa, bị cáo khai trước khi gây ra tai nạn bị cáo có sử dụng rượu tại bữa cơm đầy tháng con của bạn bị cáo nhưng trong hồ sơ vụ án không có tài liệu nào thể hiện việc này, Viện kiểm sát không truy tố bị cáo về tình tiết có sử dụng chất kích thích theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 - Bộ luật hình sự 1999 là chưa thỏa đáng.
- Nhất trí với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử buộc chủ sở hữu chiếc xe bị cáo điều khiển gây tai nạn cho anh S phải liên đới bồi thường cho gia đình chị.
* Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tranh luận: Không đồng ý với ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo và chị Đoàn Thị Ngọc M, giữ nguyên quan điểm truy tố và luận tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tHnh phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện T và kết quả giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 12/12/2015, tại nơi giao nhau giữa đường tỉnh 293 với Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn An B, xã T, tHnh phố B, Thân Văn T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HOWO, màu S xanh, biển kiểm soát 98C- 038.57 do không chấp Hnh hệ thống biển báo hiệu đường bộ (vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ) nên xe ô tô do T điều khiển đã đâm vào đuôi xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu S đen-xám-bạc, biển kiểm soát 98M6- 9807 do anh Lưu Văn S sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh B đang dừng chờ đèn đỏ. Hậu quả làm anh S tử vong tại chỗ. Sau đó Thân Văn T điều khiển xe ô tô bỏ chạy theo đường Quốc lộ 1A theo hướng Lạng S đi H Nội. Khi đi đến đoạn km 118+050 đường Quốc lộ 1A thuộc địa phận xã Đồng S, tHnh phố B, T điều khiển xe ô tô đi lấn sang phần đường dánh cho xe đi ngược C (vi phạm khoản 1 Điều 9), xe ô tô do T điều khiển đã va chạm với xe ô tô nhãn hiệu Hyundai, màu S trắng, biển kiểm soát 99C- 033.46 do anh Nguyễn Văn T sinh năn 1986, trú tại thôn Phấn Trung (nay là thôn P), xã P, huyện Q, tỉnh N điều khiển đi ngược C. Hậu quả làm xe ô tô biển kiểm soát 99C- 033.46 do anh T điều khiển bị hư hỏng thiệt hại về tài sản là 129.565.000 đồng. Hnh vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu tHnh tội “Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 202 - Bộ luật hình sự năm 1999. Cáo trạng số 177/CT-VKS ngày 09/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố B truy tố bị cáo theo điểm, khoản và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của anh Lưu Xuân S là chị Đoàn Thị Ngọc M cho rằng Viện kiểm sát không truy tố bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 - Bộ luật hình sự 1999 với tình tiết phạm tội trong tình trạng say rượu hoặc say do sử dụng chất kích thích là chưa thỏa đáng. Ý kiến này là không có căn cứ vì ngoài lời khai của bị cáo tại phiên tòa không có tài liệu, chứng cứ nào khác trong hồ sơ thể hiện việc bị cáo có sử dụng rượu trước khi phạm tội.
Về hình phạt:
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của Hnh vi phạm tội: Hnh vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, vi phạm quy tắc giao thông đường bộ. Bị cáo điều khiển xe không chú ý quan sát, không chấp Hnh hệ thống báo hiệu đường bộ, đi lấn sang phần đường dành cho xe đi ngược C. Hnh vi của bị cáo đã gây ra hậu quả làm anh Lưu Xuân S tử vong tại chỗ, xe ô tô biển kiểm soát 99C- 033.46 do anh T điều khiển bị hư hỏng thiệt hại về tài sản là 129.565.000 đồng.
Xét lỗi trong vụ án thì thấy: Lỗi trong vụ án hoàn toàn thuộc về bị cáo. Bị cáo điều khiển xe ô tô tham gia giao thông nhưng không dừng lại khi tín hiệu đèn giao thông đang là đèn đỏ; bị cáo tiếp tục đi lấn sang phần đường dành cho xe đi ngược C. Bị cáo đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ được quy định tại khoản 1 Điều 9 - Luật giao thông đường bộ.
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, tại bản án số 36/2018/HSST ngày 12/4/2018 của Tòa án nhân dân tHnh phố B đã xử phạt Thân Văn T 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trước cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo tHnh khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về Hnh vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, p khoản 1 Điều 46 - Bộ luật hình sự năm 1999 nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng quy định tại Điều 47 - Bộ luật hình sự 1999 cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố là không có căn cứ vì trong vụ án này, bị cáo phải chịu 02 tình tiết định khung tăng nặng tại điểm c, đ khoản 2 Điều 202 - Bộ luật hình sự 1999.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 48 - Bộ luật hình sự 1999.
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của Hnh vi phạm tội mà bị cáo thực hiện; căn cứ nhân thân và tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo giáo dục bị cáo tHnh người công dân biết tuân thủ pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
- Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại do hư hỏng, sửa chữa chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C-033.46 và xe ô tô biển kiểm soát 99C-033.46 theo yêu cầu của người có quyền lợi, N vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là anh Nguyễn Văn H và anh Nguyễn Văn H. Do vậy cần buộc bị cáo phải bồi thường theo yêu cầu của anh H và anh H là phù hợp với quy định tại Điều 585 và Điều 589 - Bộ luật dân sự 2015.
- Tại phiên tòa, bị cáo và đại diện hợp pháp của anh Lưu Xuân S thỏa thuận, bị cáo bồi thường cho gia đình anh S tổng số tiền là 356.820.000 đồng, trong đó: tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 139.000.000 đồng, tiền sửa chữa xe mô tô biển kiểm soát 98M6-9807 là 6.820.000 đồng, tiền đóng góp nuôi dưỡng cháu Lưu M Phương, sinh ngày 04/9/2014 (con gái của anh S) từ ngày 12/12/2015 đến khi cháu Phương đủ 18 tuổi với số tiền là 211.000.000 đồng thì thấy: Việc thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của anh S là tự nguyện, không bị ép buộc, không trái đạo đức xã hội. Do vậy Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này là phù hợp với quy định định tại Điều 585, Điều 589 và Điều 591 - Bộ luật dân sự 2015.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô số 240118243425 mang tên Thân Văn T cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1, Tuyên bố bị cáo Thân Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
2, Về hình phạt: Căn cứ điểm c, đ khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 51 - Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt: Bị cáo Thân Văn T 04 (bốn) năm 08 (tám) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của Bản án số 36/2018/HSST ngày 12/4/2018 của Tòa án nhân dân tHnh phố B, buộc bị cáo phải chấp Hnh hình phạt chung cho cả hai bản án là 05 (năm) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/01/2018.
3, Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 42 - Bộ luật hình sự 1999; Điều 585, Điều 589, Điều 591 - Bộ luật dân sự 2015.
- Buộc bị cáo Thân Văn T bồi thường 280.545.000 đồng (bằng chữ: Hai trăm tám mươi triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) tiền thiệt hại hư hỏng, sửa chữa chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C-033.46 cho anh Nguyễn Văn H.
- Buộc bị cáo Thân Văn T bồi thường 79.565.000 đồng (bằng chữ: Bảy mươi chín triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) tiền hư hỏng và sửa chữa xe ô tô biển kiểm soát 99C-033.46 cho anh Nguyễn Văn H.
- Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và đại diện hợp pháp của anh Lưu Xuân S: Bị cáo bồi thường cho gia đình anh Lưu Xuân S tổng số tiền là 356.820.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm năm mươi sáu triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng), trong đó: tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 139.000.000 đồng; tiền sửa xe mô tô biển kiểm soát 98M6-9807 là 6.820.000 đồng; tiền đóng góp nuôi dưỡng cháu Lưu M Phương, sinh ngày 04/9/2014 (con gái của anh S) từ ngày 12/12/2015 đến khi cháu Phương đủ 18 tuổi là 211.000.000 đồng.
Kể từ khi người được thi Hnh án có đơn yêu cầu thi Hnh án. Nếu bên phải thi Hnh không thi Hnh thì Hng tháng còn phải trả cho bên được thi Hnh số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 - Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi Hnh số tiền còn phải trả.
4, Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 41 - Bộ luật hình sự 1999; khoản 2 Điều 76 - Bộ luật tố tụng hình sự 2003: Trả lại bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô số 240118243425 mang tên Thân Văn T.
(Vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 156/QĐ-VKS ngày 09/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tHnh phố B và Biên bản giao nhận tài sản tạm giữ ngày 25/10/2018).
5, Về án phí, quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo được miễn án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, N vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
T hợp bản án được thi Hnh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi Hnh án dân sự thì người được thi Hnh án dân sự, người phải thi Hnh án dân sự có quyền thoả thuận thi Hnh án, quyền yêu cầu thi Hnh án, tự nguyện thi Hnh án hoặc bị cưỡng chế thi Hnh án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi Hnh án dân sự; thời hiệu thi Hnh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi Hnh án dân sự.
T/M - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh B; - VKSND Tỉnh B: - VKSND TP B; - Công an TP B; - Chi cục THADS TP B; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS, VP. | ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa Đinh Thị Vân Anh |