- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Q) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Q) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H2 TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 196/2017/HSST Ngày: 28/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H2, TỈNH H3
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phùng Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Khuôn.
2. Ông Nguyễn Công Hoan.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Bốn- Thư ký Toà án nhân dân thành phố H2, tỉnh H3.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H2, tỉnh H3 tham gia phiên toà: Bà Đinh Thu Thủy- Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 28 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H2, tỉnh H3 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 194/2017/HSST ngày 14 tháng 9 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2017/HSST-QĐ ngày 15/9/2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Q) - Sinh năm 1996.
ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Tân Thành - xã Tân Phong - H.Ninh Giang - T.H3; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Nguyễn Văn Đ, Sinh năm 1959; Con bà Nguyễn Thị N, Sinh năm 1957; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/6/2017, chuyển tạm giam từ ngày 29/6/2017 đến nay tại Trại tạm giam Kim Chi- Công an tỉnh H3. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1. Anh Bùi Văn T, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Cúc Bồ, Kiến Quốc, Ninh Giang, H3.
2. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Khu Đỗ Xá, phường Tứ Minh, thành phố H2.
Người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 21h45' ngày 26/6/2017, tại khu vực ngã tư giao cắt giữa đường Phạm Văn Đồng với đại lộ 30/10 thuộc khu đô thị phía tây Nam Cường - P. Tứ Minh - TP. H2, Phòng Cảnh sát hình sự (PC45) Công an tỉnh H3 bắt quả tang Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Q) cất giấu trái phép trong túi quần bò bên phải 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có 04 gói giấy màu trắng kích thước (0,5x 1) cm/gói, bên trong các gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng. H khai nhận là Heroin cất giấu để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 226 ngày 28/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H3 kết luận: Mẫu chất bột (dạng cục) màu trắng, ghi thu của Nguyễn Văn H gửi đến giám định có tổng trọng lượng là 0,177 gam là Heroin, chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT: 20, Nghị định số 82/2013/NĐ- CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về kết luận của Phòng kỹ thuật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Q) thành khẩn khai nhận: Do nghiện chất ma túy (loại Heroin), khoảng 20h30' ngày 26/6/2017, H rủ anh Bùi Văn T ở thôn Cúc Bồ - xã Kiến Quốc - huyện Ninh Giang lên TP. H2 chơi, anh T đồng ý. H điều khiển xe môtô của anh T (xe Yamaha Sirius, biển số 34B3 - 162.34) chở anh T đến TP. H2. Khi đi đến quán nước gần ngã tư giao cắt giữa đường Phạm Văn Đồng với đại lộ 30/10 thuộc khu đô thị phía tây Nam Cường - P. Tứ Minh - TP. H2, H dừng xe bảo anh T đứng đợi, còn H đi bộ vào trong quán nước mua được 04 gói Heroin đựng trong gói giấy bạc màu vàng của nam thanh niên (không rõ tên tuổi, địa chỉ) với số tiền 400.000đ, giấu vào túi quần bò bên phải phía sau đang mặc. Sau khi mua được ma túy H gọi anh T vào quán ngồi uống nước. Đến 21h45' cùng ngày, khi H và anh T đang ngồi tại quán nước thì bị tổ công tác phòng Cảnh sát hình sự (PC45) Công an tỉnh H3 phát hiện, bắt giữ. Thu giữ 01 gúi giấy bạc màu vàng bên trong có 04 gói giấy màu trắng, có sự chứng kiến của những người làm chứng.
Tại bản cáo trạng số 194/VKS-HS ngày 12/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H2 truy tố bị cáo Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Q) về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H2, tỉnh H3 thực hành quyền công tố, trình bầy luận tội: Giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Q) phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS; Nghị quyết 41 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Q) từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/6/2017.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì số 226/KLGĐ-PC54 có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh H3 (Bên trong chứa Heroin hoàn lại sau giám định); Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H2, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố H2, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đó thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đó thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Q) tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21h45' ngày 26/6/2017, tại khu vực ngó tư giao cắt giữa đường Phạm Văn Đồng với đại lộ 30/10 thuộc khu đô thị phía tây Nam Cường - P. Tứ Minh - TP. H2, Nguyễn Văn H đang cất giấu trái phép 0,177 gam Heroin để sử dụng thì bị Phòng Cảnh sát hình sự (PC45) Công an tỉnh H3 phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rừ Heroin là chất ma túy bị Nhà nước cấm lưu hành nhưng vẫn cố ý cất giấu trái phép 0,177 gam là Heroin với mục đích để sử dụng nên hành vi của bị cáo đó cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố H2 truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như trên là đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Chất ma túy hay những chất hướng thần là chất ma túy đều có tác hại rất lớn đến con người cũng như toàn xã hội. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, năm 2014 bị công an huyện Ninh Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và trở về địa phương, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này, bị cáo bị truy tố và đưa ra xét xử theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 có mức hình phạt tự từ 02 năm đến 07 năm tù, trong khi tội phạm tương ứng quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định mức hình phạt tự từ 01 năm đến 05 năm. Do vậy Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng Nghị quyết số 41 của Quốc hội, Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo cũng phù hợp với quy định tại Khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Công tỉnh H3 thu giữ của bị cáo 0,177gam Heroin. Hoàn lại mẫu vật sau giám định là 0,116 gam Heroin. Xét Heroin là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 vỏ bao gói là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với anh Bùi Văn T không biết H mua và cất giấu trái phép Heroin để sử dụng; không làm rõ được người bán trái phép ma túy cho H nên không có căn cứ xử lý.
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Q) phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Q) 13 (Mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/6/2017.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì số 226/PC54 có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh H3 (Bên trong chứa Heroin hoàn lại sau giám định).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H2 và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H2 ngày 18/9/2017).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Q) phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H (Tên gọi khác Q) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND TP H; - Công an TP H; - Chi cục THA DS TPHD; - Trại tạm giam Kim Chi; - Sở Tư pháp H; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phùng Thắng |