- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 196/2017/HSST Ngày 09/11/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ H
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Hằng Huệ
2. Bà Nguyễn Thị Thụy
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Dƣơng Thị Sen - Cán bộ Tòa án nhân dân quận B, thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hà- Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 11 năm 2017 tại Trung tâm chính trị quận B, thành phố H, Tòa án nhân dân quận B mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 189/2017/HSST ngày 24/10/2017 đối với bị cáo:
Lê Xuân B, sinh năm 1980; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: phường X, quận T, thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn B và bà: Lê Thị H; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt ngày 11/02/2017; Tạm tha ngày 07/7/2017; Bắt lại ngày 17/8/2017. Danh chỉ bản số 100 do công an quận B lập ngày 11/02/2017. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo Lê Xuân B bị Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 11/02/2017, tại trước cửa số nhà 110 phố Đ, phường V, quận B, thành phố H, công an phường V bắt quả tang Lê Xuân B tàng trữ trái phép 01 gói nilong mầu xanh KT 1x2cm trong đựng 01 gói giấy bạc trắng, trong có chứa một cục bột trắng. B khai là hêrôin mua để sử dụng.
Tại cơ quan điều tra, B khai nhận:
Khoảng 9 giờ ngày 11/02/2017 B từ nhà đi bộ ra dốc điện lực phường X, đường L, quận T, thành phố H thuê anh Lê Trung H, sinh năm 1972, trú tại: đường X, quận T, thành phố H làm nghề xe ôm chở đến khu vực đường P, anh H dùng xe máy BKS 29P6- 1893 chở B đến đường H, anh H chờ, B đi sâu vào trong ngõ 22 đường P mới mua của nam thanh niên không quen biết 01 gói hêrôin giá 300.000 đồng. Sau đó B quay ra, lên xe ngồi sau chỉ đường anh H chở đi. Đến trước số 110 đường Đ thấy vắng người có thể sử dụng ma túy được, B yêu cầu anh H dừng xe, khi B vừa xuống xe thì bị lực lượng công an kiểm tra, B kẹp gói ma túy vào giữa hai đùi đứng im để giữ không bị rơi, khi bị các đồng chí công an yêu cầu đi thì gói ma túy rơi xuống ngay sát chân của B. B bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Bản kết luận giám định số 1259 ngày 24/02/2017 của phòng kỹ thuật hình sự công an thành phố H kết luận: Cục bột mầu trắng bên trong 01 gói giấy bạc mầu trắng là ma túy loại hêrôin, trọng lượng 0,278 gam.
Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã rà soát nhưng không xác định được đối tượng bán ma túy cho B nên không có căn cứ xử lý.
Việc anh Lê Trung H đã trở B nhưng không biết B đi mua ma túy, nên cơ quan điều tra không xử lý, đồng thời cơ quan điều tra cũng đã trả lại cho anh H chiếc xe máy BKS 29P6-1893.
Tại bản cáo trạng số: 192/CT-VKS ngày 17/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận B đã truy tố Lê Xuân B về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo qui định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B giữ nguyên quyết định truy tố nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 41 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 về việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt: Lê Xuân B từ 18 đến 24 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon, là loại ma túy hêrôin, trọng lượng: 0,287gam.
Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà viện kiểm sát đã truy tố không có tranh luận gì. Nội dung lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, sớm trở về với gia đình.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang và vật chứng thu được trong vụ án, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ. Đồng thời căn cứ vào bản kết luận giám định số 1259 ngày 24/02/2017 của phòng kỹ thuật hình sự công an thành phố H. Đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10h30 phút ngày 11/02/2017, tại trước cửa số nhà 110 đường Đ, phường V, quận B, thành phố H, Lê Xuân B đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,278gam hêrôin, mục đích để sử dụng cho bản thân đã bị công an phường V kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điều 194 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố bị cáo theo khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy cũng như nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo vẫn cố tình phạm tội. Hành vi của bị cáo không những gây mất trật tự trị an xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác nên cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, thái độ ăn năn hối cải, nhân thân không có tiền án tiền sự, bố đẻ của bị cáo là thương binh hạng 4. Mặt khác, theo tinh thần của Bộ luật hình sự năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 về việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015. Để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, tuy Bộ luật hình sự năm 2015 chưa có hiệu lực pháp luật nhưng đã được công bố nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo thể hiện tính công minh và khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghiện ma túy, không có nghề nghiệp do vậy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo qui định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,278gam hêrôin bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Lê Xuân B.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự.
Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/QH13 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo luật số 12/2017/QH14 về việc áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân B 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/8/2017 (được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 11/2/2017 đến ngày 07/7/2017).
Áp dụng:
- Điều 76, Điều 99, Điều 231, Điều 234 – Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điều 41- Bộ luật hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
* Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa 0,278gam hêrôin bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Lê Xuân B (theo biên bản giao, nhận vật chứng số 09 ngày 19/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự quận B).
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -TAND TP thành phố H; - VKSND quận B; - Công an quận B; - Bị cáo; - Chi cục THADS quận B; - Lưu TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Nhung |