vanban.org

Bản án 196/2017/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 10/08/2017 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/08/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 36/2016/HSST ngày 07/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk để điều tra, truy tố và xét xử lại theo thủ tục chung.

Các bị cáo Trần Minh T, Lê Văn H, Trương Bá V, Vương Thị Ngọc H, Lâm Quốc H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Quốc T và các bị cáo khác - Bị truy tố tội giết người (điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 36/2016/HSST ngày 07/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk để điều tra, truy tố và xét xử lại theo thủ tục chung.
  • Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 250 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 252 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 196/2017/HSPT
Ngày 10/8/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Liêm

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tiến

Ông Lê Phƣớc Thanh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Kiều, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Quách Đức Dũng, kiểm sát viên.

Vào ngày 10 tháng 8 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31/2016/TLPT-HS ngày 14/10/2016 đối với bị cáo Vương Quốc T và các bị cáo khác về tội “Giết người”, “Cố ý gây thương tích” và “Gây rối trật tự công cộng”. Do có kháng cáo của các bị cáo và kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại, đối với bản án sơ thẩm số 36/2016/HSST ngày 07/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

* Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

1. Vƣơng Quốc T, sinh năm 1983 tại tỉnh Sóc Trăng; thường trú tại: xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Tạm trú tại: phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa 6/12; Con ông Vương Văn L (đã chết) và bà Trang Thị Thu V; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 03/3/2003 bị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xử phạt 20 năm tù về tội “Giết người”, ngày 30/8/2013 được đặc xá tha tù trước thời hạn; Bị bắt giam ngày 02/4/2015, Có mặt.

2. TRẦN MINH T (T), sinh năm 1987 tại tỉnh Đắk Lắk; Thường trú tại: phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa 9/12; Con ông Trần Hữu Đ và bà Đặng Thị Phương C; Bị bắt giam ngày 02/4/2015, Có mặt.

3. LÊ VĂN H, sinh ngày 12/8/1998 tại tỉnh Đắk Lắk; Thường trú tại: phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Thợ hớt tóc; Trình độ văn hóa 8/12; Con ông Lê Văn V và bà Nguyễn Thị Hồng T; Bị bắt giam ngày 02/4/2015, Có mặt.

4. TRƢƠNG BÁ V (T1), sinh năm 1990 tại tỉnh Đắk Lắk; Thường trú tại: phường H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Rửa xe; Trình độ văn hóa 11/12; Con ông Trương Bá T và bà Đặng Thị H; Tiền án: Ngày 15/6/2011 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Gia Lai xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; Bị bắt giam ngày 02/4/2015, Có mặt.

5. VƢƠNG THỊ NGỌC H (B), sinh năm 1993 tại tỉnh Sóc Trăng; Thường trú tại: xã , huyện , tỉnh Sóc Trăng; Tạm trú tại: phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Thợ sửa điện thoại; Trình độ văn hóa 7/12; Con ông Vương Văn L (chết) và bà Trang Thị Thu V; bị bắt giam ngày 03/4/2015 đến ngày 03/7/2015 được gia đình bảo lĩnh, bị cáo tại ngoại, Có mặt.

6. LÂM QUỐC H, sinh năm 1998 tại tỉnh Sóc Trăng; Thường trú tại: xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Tạm trú tại: phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa 4/12; Con ông Lâm Ngọc L và bà Vương Trang Trường Thị Tuyết L; Bị cáo tại ngoại; Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Vương Quốc T: Ông Võ H, luật sư, văn phòng luật sư Võ H, Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk - bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Minh T, Lê Văn H: Ông Dương Lê S, luật sư, văn phòng luật sư L, Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk - bào chữa theo yêu cầu của các bị cáo; Có mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo và liên quan đến kháng cáo:

* Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Nguyễn Thị C; sinh năm 1956; trú tại: phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - là mẹ đẻ của người bị hại anh Phạm Văn Quốc T (chết), Bà C có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đặng Thị Phương C; sinh năm 1962; trú tại: phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Có mặt.

2. Ông Lê Văn V; sinh năm 1976; trú tại: phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 01/4/2015, Vương Quốc T, Trần Minh T, Lê Văn H và Phan Nhật T đến quán “S” ở vỉa hè thành phố B để uống rượu. Trong khi ngồi uống rượu nhóm của Vương Quốc T cho rằng nhóm thanh niên ngồi nhậu bàn bên cạnh gồm anh Nguyễn Thanh D, Bùi Văn T, Phạm Văn Quốc Đ “nhìn đểu” nên nhóm của Vương Quốc T gây sự và dẫn đến xô xát, đánh nhau. Trong lúc đánh nhau, Vương Quốc T bị một thanh niên đánh trúng vào mặt nên bị thương nhẹ, cùng lúc này thấy đánh nhau nên một số thanh niên gần đó chạy lại nên nhóm của Vương Quốc T bỏ chạy vào đường L, phường T, thành phố B ở gần đó để trốn. Trong khi bỏ chạy Vương Quốc T lấy trộm được 01 con dao Thái Lan của người phụ nữ bán bánh mỳ bỏ vào túi quần rồi dùng điện thoại di động gọi cho Trương Bá V đến, chị gái của Vương Quốc T là Vương Trang Trường Thị Tuyết L biết được tin Vương Quốc T bị đánh nên chị L nói lại với chồng là Lâm Ngọc L biết, đồng thời qua rủ em gái là Vương Thị Ngọc H đi tìm Vương Quốc T. Nghe chị L nói Vương Quốc T bị đánh thì H vào nhà nói lại với cháu là Lâm Quốc H và chị gái là Vương Trang Trường Thị Cẩm T và chồng của chị T là Đoàn Văn Q biết. Nghe H nói thì Lâm Quốc H trèo lên gác xép phòng trọ lấy cây kiếm nhật bọc vào trong áo khoác sau đó được H lấy xe Cub biển số 47AB-010.14 chở Lâm Quốc H đi trước, còn ông L lấy xe chở bà chị L theo sau. Sau khi nghe H kể lại sự việc thì chị Tú cũng nói chồng là Q đi tìm Vương Quốc T thì ông Q qua nhà ông Trần Minh Đ rủ ông Đ cùng đi tìm Vương Quốc T. Cũng thời điểm này Vương Quốc D ở tại xã C, thành phố B cũng biết sự việc Vương Quốc T bị đánh nên ông D cũng đi tìm Vương Quốc T.

Khi nghe Vương Quốc T gọi điện thoại nói bị đánh lúc này Trương Bá V đang uống cà phê cùng một số bạn bè nên Vương đã mượn xe máy biển số 47B1-710.97 của anh Võ Thanh H chạy đến gặp Vương Quốc T, T và H ở đầu đường L. Một lúc sau thì các ông Q, Đ, D cũng tìm thấy nhóm của Vương Quốc T tại đây. Lúc này, Văn Chí H, Nguyễn Vũ Đức D nhìn thấy ông Q chạy xe chở Đăng nên cũng chạy xe máy theo. Còn Lâm Quốc H, Minh L và Đinh Đại Đ trên đường đi dự sinh nhật có điện thoại cho Nguyễn Vũ Đức D thì được D hẹn gặp tại đường L. Sau đó, L và Đ cùng chạy xuống chỗ nhóm Q và Vương Quốc T đang đứng. Riêng Phan Nhật T sau khi xô xát tại quán “S” và bỏ chạy thì nhờ bạn là Trần Đại N chở quay lại quán “S” để lấy xe thì cũng gặp nhóm của Vương Quốc T tại đầu đường L. Lúc này, thấy Vương Quốc T chỉ bị thương nhẹ và đã say rượu nên ông Đoàn Văn Q can ngăn và nói Vương Quốc T đi về nhưng Vương Quốc T không nghe mà chạy xe một mình xuống đường H để tìm đánh nhóm thanh niên vừa đánh mình. Thấy vậy, V cùng cả bọn có mặt tại đây đi theo Vương Quốc T, riêng Phan Nhật T và Trần Đại N lấy xe chở H và T xuống đến đầu ngã ba đường H - L thì H và T xuống đi bộ theo Vương Quốc T còn Phan Nhật T và Trần Đại N quay đầu xe bỏ về. Khi nhóm Vương Quốc T xuống đến đường H thì phát hiện một nhóm thanh niên gồm anh Phạm Văn Quốc Đ, Bùi Văn T, Nguyễn Thanh D và Dương Thành Đ đang ngồi chơi bên sạp gỗ tại đầu hẻm 42 đường H, anh Phạm Văn Quốc T đang ngồi chơi trên xe máy dựng trước nhà mình ở số 27 H, thành phố B và bố của anh T là ông Phạm Văn Lâm Quốc H đang đứng ở trước quán tạp hóa của mẹ ông Lâm Quốc H là bà Đàm Thị L ở số nhà 29 H, thấy nhóm của Vương Quốc T đi đến thì anh Bùi Văn T và Nguyễn Thanh D bỏ chạy vào hẻm 42 đường H, còn anh Phạm Văn Quốc Đ đi đến ngồi trước hiên nhà mình ở số 27 H, anh Dương Thành Đạt thấy vậy nên cũng bỏ trốn vào trong nhà anh Phạm Văn Quốc Đ.

Thấy anh Bùi Văn T và anh Nguyễn Thanh D bỏ chạy vào hẻm 42 đường H nên Vương Quốc T đuổi theo anh T và anh D nhưng không được nên quay lại đầu hẻm 42 đường H đứng. Cùng lúc này H, Lâm Quốc H, ông L và bà chị L cũng vừa đến. Tại đây, ông Q, ông D cùng các chị em tiếp tục can ngăn bảo Vương Quốc T đi về thì Vương Quốc T ngồi lên xe Cub để H chở về. Khi đến trước cổng Trường THCS L ở số 52 đường H thì Vương Quốc T bực tức vì chưa tìm được nhóm thanh niên đánh mình nên Vương Quốc T nhảy xuống xe đi bộ quay lại đầu hẻm 42 đường H đứng. Do can ngăn Vương Quốc T ra về không được nên ông Q cùng các ông Đ, ông L, bà T, ông D bỏ đi. Lúc này, tại đầu hẻm 42 đường H chỉ còn Vương Quốc T, H, T, Vương, Lâm Quốc H, bà chị L, H ở lại.

Lúc này, Vương Quốc T nói với H: “Tụi mày biết nhà tụi nó ở đâu chỉ để tao xử từng thằng một”. Nghe vậy, thì H chỉ tay về số người đang đứng trước nhà 27 đường Hô Tùng Mậu và nói “Tụi nó kìa anh” còn T nhìn thấy anh Phạm Văn Quốc Đ mặc áo thể thao màu đỏ giống với người trong nhóm vừa đánh mình đang ngồi trước hiên nhà 27 đường H nên nói với Vương Quốc T: “Phải nó không anh Vương Quốc T”. Nghe H và T nói vậy thì Vương Quốc T đi qua đường về phía anh Phạm Văn Quốc Đ thì bị ông Phạm Văn Lâm Quốc H ngăn lại không cho vào nhà. Giữa Vương Quốc T và ông Lâm Quốc H xảy ra lời qua tiếng lại cãi nhau. Thấy Vương Quốc T đòi vào nhà mình và cãi nhau với bố nên anh Phạm Văn Quốc T nói: “nhà của tao thằng nào vào tao chém chết”. Nghe vậy, Vương Quốc T đi đến chỗ anh Phạm Văn Quốc T đang ngồi trên xe máy dùng tay đấm 01 cái trúng vào mặt khiến anh T ngã xuống xe, bị đánh nên anh T chạy vào trong nhà lấy 01 con dao rựa ra rồi dùng dao nhằm vào người Vương Quốc T chém từ trên xuống thì Vương Quốc T đưa tay trái lên đỡ nên bị chém trúng tay gây thương tích. Bị chém, Vương Quốc T dùng tay phải lấy dao từ trong túi quần ra đâm 02 nhát vào người anh T khiến anh T gục ngã xuống đường, Vương Quốc T dùng tay nhặt lấy con dao rựa của anh T để làm hung khí tiếp tục đánh nhau với anh Phạm Văn Quốc H, anh H dùng dao chém Vương Quốc T thì Vương Quốc T né tránh, dùng dao rựa đỡ đồng thời dùng dao Thái Lan đánh lại, đánh nhau được khoảng 1-2 phút thì Vương Quốc T bị anh Nguyễn Hùng N dùng chân đạp 01 cái trúng lưng nên Vương Quốc T bỏ chạy về hướng đường L. Trên đường bỏ chạy Vương Quốc T vứt dao dùng để đâm anh T và ném con dao rựa lại phía sau nhằm cản đường không cho người khác đuổi theo.

Cũng trong lúc cãi vã, xô xát đánh nhau ông Phạm Văn Lâm Quốc H chạy vào nhà lấy 01 cái xẻng, 01 con dao rựa, anh Phạm Văn Quốc Đ, anh Phạm Văn Quốc H cũng vào nhà cầm cây, rựa chạy ra đánh nhau với nhóm của Vương Quốc T.

Trong khi đánh nhau lộn xộn thì T chạy lại chỗ Lâm Quốc H đang đứng dùng tay cầm cán kiếm từ trong người Lâm Quốc H ra rồi dùng kiếm chém 01 cái trúng vào vùng lưng của anh Phạm Văn Quốc H gây thương tích. Chém xong, T cầm kiếm bỏ trốn vào trong hẻm 42 đường H. Còn Trương Bá V nhặt được 01 cây dao rựa rơi ra đường chém trúng người anh Phạm Văn Quốc Đ làm anh Đ bị thương. Cùng lúc này ông Lâm Quốc H cầm rựa và xẻng đuổi đánh nhóm người gồm H, Lâm Quốc H, V, H và 01 đối tượng nữa (chưa xác định được nhân thân lai lịch) về hướng Trường tiểu học dân lập V. Bị ông Lâm Quốc H đuổi đánh thì H, Lâm Quốc H, H bỏ chạy rồi ném gạch, đá về phía sau. Khi ông Lâm Quốc H cầm dao chạy đến trước cổng Trường tiểu học dân lập Văn Lang thì ông Lâm Quốc H bị 01 thanh niên (chưa rõ nhân thân lai lịch) cầm dao rựa chém từ trên xuống trúng đầu khiến ông Lâm Quốc H gục ngã.

Trong khi bỏ chạy thoát, trên đường đi Vương Quốc T vứt nốt con dao Thái Lan dùng vào việc phạm tội, sau đó biết mình đã dùng dao đâm chết người nên đến 01h 00’ ngày 02/4/2015 Vương Quốc T đến Công an thành phố B đầu thú.

Các anh Phạm Văn Quốc T, Phạm Văn Quốc H, Phạm Văn Quốc Đ và ông Phạm Văn Lâm Quốc H được gia đình đưa đi cấp cứu nhưng do vết thương quá nặng nên anh Phạm Văn Quốc T đã tử vong, còn anh Hùng, anh Đ bị thương nhẹ, sau khi điều trị xuất viện, riêng ông Phạm Văn Lâm Quốc H sau khi cấp cứu điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk và bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 07/6/2015 thì tử vong.

- Tại bản kết luận pháp y tử thi số 194/GĐPY ngày 28/3/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận nguyên nhân tử vong của anh Phạm Văn Quốc T là do: Đa vết thương ngực trái và tay trái tổn thương cơ, mạch máu tay trái và đứt xương sườn, thủng phối trái dẫn đến mất máu suy tuần hoàn không hồi phục.

- Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 421/PY-TgT ngày 07/4/2015 của Vương Quốc T tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận anh Phạm Văn Quốc H bị đa thương phầm mềm, tỷ lệ 8%.

- Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích bổ sung số 349/PY-TgT ngày 21/3/2016 của Vương Quốc T tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận anh Phạm Văn Quốc H bị vết thương cạnh hõm nách trái, tỉ lệ thương tích 04%, vết thương mu bàn tay trái, tỉ lệ thương tích 02%, vết thương ở trung đòn trái, tỉ lệ thương tích 01%, vết thương bả vai, tỉ lệ thương tích 01%, tổng số thương tích 08%, vật tác động sắc nhọn.

- Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 422/PY-TgT ngày 07/4/2015 của Vương Quốc T tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận anh Phạm Văn Quốc Đ bị đa thương phầm mềm, tỷ lệ 18%.

- Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích bổ sung số 350/PY-TgT ngày 21/3/2016 của Vương Quốc T tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận anh Phạm Văn Quốc Đ bị vết thương bả vai thấu ngực, tỉ lệ thương tích 08%, vết thương khuỷu trái, tỉ lệ thương tích 06%, vết thương cẳng tay trái, tỉ lệ thương tích 02%, vết thương bàn tay trái, tỉ lệ thương tích 02%, tổng số thương tích 18%, vật tác động sắc nhọn.

- Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 811/PY-TgT ngày 05/8/2015 của Vương Quốc T tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận Vương Quốc T bị đa thương phần mềm, tỉ lệ thương tích 7%.

- Tại bản kết luận giám định tuổi số 1687/C54B ngày 24/6/2015 của Phân viện KHHS tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận độ tuổi của Lâm Quốc H vào thời điểm giám định (tháng 6/2015): Khoảng từ 16 năm 09 tháng đến 17 năm 03 tháng.

Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk có trích xuất được một file Camera ghi hình của Trường tiểu học dân lập Văn Lang ghi lại hình ảnh ông Phạm Văn Lâm Quốc H cầm dao đuổi đánh một số đối tượng, sau đó bị một thanh niên dùng dao chém vào đầu làm ông Lâm Quốc H bất tỉnh trước cổng Trường tiểu học dân lập V. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định nội dung file Camera đã được thu giữ. Tại bản kết luận giám định số 211/C54-P5 ngày 01/3/2016 của Viện khoa học hình sự, Bộ Công an thể hiện: Tệp hình ảnh có tên 20150401-221502-11-01.mp4 dung lượng 28,5MB thời lượng 26 phút, 15 giây hình ảnh trích được mờ, nhòe hình ảnh thiếu ánh sáng, được ghi hình lúc trời tối, khoảng cách ghi hình xa nên không thể hiện đặc điểm để tiến hành nhận dạng, kết luận:

- Không đủ cơ sở để xác định đối tượng dùng hung khí chém ông Phạm Văn Lâm Quốc H là đối tượng nào trong 14 đối tượng có mẫu ảnh so sánh.

- Không đủ điều kiện để làm rõ các hình ảnh các đối tượng tham gia đánh nhau với ông Phạm Văn Lâm Quốc H.

- Không xác định được chiều cao, cân nặng của đối tượng dùng dao chém ông Phạm Văn Lâm Quốc H.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 36/2016/HSST ngày 07/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Vương Quốc T, Trần Minh T, Lê Văn H phạm tội “Giết người” và tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo Trương Bá V phạm tội “Cố ý gây thương tích". Các bị cáo Vương Thị Ngọc H, Lâm Quốc H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng".

- Áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 93, khoản 2 Điều 104, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Vƣơng Quốc T tù chung thân về tội “Giết người" và 02 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích", tổng hợp hình phạt của cả 2 tội buộc bị cáo Vương Quốc T phải chấp hành hình phạt chung là tù chung thân. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/4/2015.

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93, khoản 2 Điều 104, điểm b, p khoản 1 Điều 46, điếm a khoản 1 Điều 50 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Bị cáo TRẦN MINH T 16 năm tù về tội “Giết người’ và 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tổng hợp hình phạt của cả 2 tội buộc bị cáo Trần Minh T phải chấp hành hình phạt chung là 19 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/4/2015.

- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 93; khoản 2 Điều 104, điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 69, khoản 1 Điều 74; điểm a khoản 1 Điểu 50 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Bị cáo LÊ VĂN H 10 năm tù về tội “Giết người” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, tổng hợp hình phạt của cả 2 tội buộc bị cáo Lê Văn H phải chấp hành hình phạt chung là 11 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/4/2015.

- Áp dụng khoản 2 Điều 104, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo TRƢƠNG BÁ V 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 02/4/2015.

- Áp dụng khoản 1 Điều 245; điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo VƢƠNG THỊ NGỌC H 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 03/3/2015 đến ngày 03/7/2015.

Áp dụng khoản 1 Điều 245, điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 69, khoản 1 Điều 74 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo LÂM QUỐC H 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quy định về thi hành án và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, các bị cáo Lê Văn H, Trương Bá V và Trần Minh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; các bị cáo Vương Thị Ngọc H, Lâm Quốc Hoàn kháng cáo xin hưởng án treo; người đại diện hợp pháp của người bị hại anh Phạm Quốc Tuấn là bà Nguyễn Thị C kháng cáo tăng hình phạt đối với các bị cáo, xử lý hình sự đối với bà Vương Trang Trường Thị Cẩm T với vai trò đồng phạm, có dấu hiệu ông Vương Quốc D đã chém chết ông Phạm Văn Lâm Quốc H, có dấu hiệu các bị cáo bao che người chém ông Phạm Văn Lâm Quốc H.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Minh T, Lê Văn H, Trương Bá V, Vương Thị Ngọc H, Lâm Quốc H và người đại diện hợp pháp của người bị hại bà Nguyễn Thị C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Các bị cáo Trần Minh T, Lê Văn H xin xem xét lại tội “Giết người” và xin giảm nhẹ hình phạt.

Các bị cáo Trương Bá V, Vương Thị Ngọc H, Lâm Quốc H xin giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo H và Lâm Quốc H còn xin được hưởng án treo.

Người đại diện hợp pháp của người bị hại bà Nguyễn Thị C yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xử tăng hình phạt đối với các bị cáo, xem xét xử lý hình sự đối với bà Vương Trang Trường Cẩm Tú, đồng phạm với các bị cáo vì bà T nói câu kích động: “Tụi mày chém chết mẹ nó đi có gì chế lo cho”. Gia đình nghi ngờ Vương Quốc D là người chém chết chồng bà là ông Phạm Văn Lâm Quốc H và bà Cúc yêu cầu làm rõ vụ án này.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk để điều tra, truy tố và xét xử lại.

Lời bào chữa của luật sư cho bị cáo Vương Quốc T nhất trí về phần tội danh và khung hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng để xét xử đối với bị cáo Vương Quốc T và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm.

Lời bào chữa của luật sư cho các bị cáo Trần Minh T, Lê Văn H cho rằng việc Vương Quốc T lấy dao, dùng dao đâm anh Phạm Văn Quốc T, các bị cáo T và H hoàn toàn không biết nên các bị cáo T, H không đồng phạm với bị cáo Vương Quốc T về tội giết người. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Minh T, Lê Văn H không phạm tội “Giết người”. Đối với tội “Cố ý gây thương tích” đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo T và H.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 01/4/2015, tại quán “S”, Vương Quốc T, Trần Minh T, Lê Văn H đã gây sự đánh nhau với nhóm các anh Nguyễn Thanh D, Bùi Văn T, Phạm Văn Quốc Đ. Vương Quốc T bị đánh vào mặt nên rất bực tức, cùng với Trần Minh T, Lê Văn H đi tìm những người đánh nhóm của mình để đánh trả thù. Vương Quốc T nói: “Tụi mày biết nhà tụi nó ở đâu, chỉ để tao xử từng thằng một”. H chỉ tay về số người đang đứng trước nhà 27 H và nói: “Tụi nó kìa anh”, còn T nhìn thấy anh Đ mặc áo thể thao màu đỏ và nói: “Phải nó không anh Vương Quốc T?”. Nghe vậy, Vương Quốc T đi đến nhà 27 H gây sự. Do anh Phạm Văn Quốc T nói: “Nhà của tao thằng nào vào tao chém chết” nên Vương Quốc T mới đến gây sự với anh T và sau đó dùng dao Thái Lan đâm anh T chết. Vương Quốc T còn dùng hung khí đánh nhau với anh Phạm Văn Quốc H. T chạy đến lấy kiếm từ trong người Lâm Quốc H chém trúng vào vùng lưng của anh H. Lê Văn H dùng chai thủy tinh ném lại.

Đối với Trương Quốc Vương khi nghe Vương Quốc T gọi điện thoại nói bị đánh, Vương mượn xe máy chạy đến chỗ Vương Quốc T. Khi đánh nhau, Vương nhặt được một cây dao rựa bị rơi chém vào người anh Phạm Văn Quốc Đ. Vương Thị Ngọc H khi nghe Vương Quốc T bị đánh, H gọi Lâm Quốc H và Lâm Quốc H đem theo cây kiếm đã bị T lấy dùng để chém anh Lâm Quốc H. H và Lâm Quốc H dùng gạch, đá ném lại. Hậu quả anh Phạm Văn Quốc T chết, anh Phạm Văn Quốc Lâm Quốc H bị thương tích với tỷ lệ 8%, anh Phạm Văn Quốc Đ bị thương tích với tỷ lệ 18%.

Đối với con dao Thái Lan mà Vương Quốc T sử dụng đâm anh Phạm Văn Quốc T chết thì tại biên bản về việc người phạm tội ra đầu thú lập ngày 02/4/2015 (BL316) và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, Vương Quốc T đều khai con dao này Vương Quốc T lấy của một người bán bánh mì ở đầu hẻm đường N. Nhưng Cơ quan điều tra lấy lời khai của chị Nguyễn Thanh T ngày 21/5/2015 (BL586, 587), chị T khai: Tại đầu hẻm 151 L thì chỉ mình nhà tôi bán bánh mì đêm và chị không bị mất con dao nào. Như vậy, Cơ quan điều tra chưa làm rõ hẻm đường N có người bán bánh mì không, nếu có bán thì có bị Vương Quốc T lấy dao không, tiến hành đối chất giữa bị cáo Vương Quốc T và chị Trang để làm rõ.

Đối với bị cáo Trần Minh T thì tại lời khai ngày 09/4/2015 (BL358) T khai:...Khi tôi thấy nhóm tôi đông người, mang theo kiếm, dao, rựa đánh người là nguy hiểm cho tính mạng của họ. Lời khai này chưa được làm rõ ai mang theo kiếm, dao rựa, Vương Quốc T có mang theo dao không.

Đối với bị cáo Lê Văn H thì tại lời khai ngày 15/4/2015 (BL417), H khai: Khi tập trung tại đây, khi đó tôi thấy Vương Quốc T cầm dao Thái Lan (cán màu gì không rõ do Vương Quốc T cầm tay che mất cán dao) nhưng chưa xác định được địa điểm H thấy dao Vương Quốc T cầm.

Tại bản kết luận điều tra số 25/KLĐT-PC45 (Đ3) ngày 30/3/2016 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk (BL637 đến 641) thể hiện:...Nghe H và T nói vậy thì Vương Quốc T cầm dao (loại dao Thái Lan) đi qua đường về phía anh Phạm Văn Quốc Đ... . Bản kết luận điều tra chưa xác định rõ con dao ở đâu bị cáo Vương Quốc T có. Bản cáo trạng số 30/KSĐT-HS ngày 30/5/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk thể hiện: Trong khi bỏ chạy, Vương Quốc T lấy trộm được một con dao Thái Lan của người phụ nữ bán bánh mì (không xác định được là ai) bỏ vào túi quần. Bản án sơ thẩm chỉ xác định Vương Quốc T dùng dao đâm anh T mà không nói rõ con dao đó có từ đâu.

Từ những chứng cứ đã được phân tích trên cho thấy: Cần phải xác định rõ: Con dao Thái Lan mà Vương Quốc T dùng để đâm anh Phạm Văn Quốc T ở đâu Vương Quốc T có. Các bị cáo Trần Minh T, Lê Văn H biết được Vương Quốc T có dao từ lúc nào? Làm rõ lời khai nói trên của các bị cáo T và H. Làm rõ ý thức chủ quan của các bị cáo Trần Minh T, Lê Văn H khi chỉ Vương Quốc T vào nhà 27 H để Vương Quốc T đánh anh Phạm Văn Quốc Đ hay là gặp ai cũng đánh, vì Vương Quốc T cầm dao đâm anh T chết trong khi anh T không có mâu thuẫn trước với nhóm của Vương Quốc T, để xác định các bị cáo T và H có đồng phạm với bị cáo Vương Quốc T về tội “Giết người” hay không.

Khi điều tra lại cũng cần làm rõ lời khai của bà Nguyễn Thị C là người đại diện hợp pháp của người bị hại cho rằng bà Vương Trang Trường Cẩm T nói câu kích động: “Tụi mày chém chết mẹ nó đi có gì chế lo cho” có hay không.

Đồng thời, trong trường hợp Cơ quan điều tra đã làm rõ hành vi của các đối tượng giết chết ông Phạm Văn Lâm Quốc H thì nhập chung trong cùng vụ án để giải quyết cho phù hợp.

Để bảo đảm đánh giá mức độ phạm tội của từng bị cáo trong vụ án khi được điều tra lại, Hội đồng xét xử Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2016/HSST ngày 07/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk để điều tra, truy tố và xét xử lại theo thủ tục chung.

Do bản án hình sự sơ thẩm bị hủy nên các bị cáo có kháng cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 248; Điều 250; Điều 252 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm số 36/2016/HSST ngày 07/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk để điều tra, truy tố và xét xử lại theo thủ tục chung.

- Các bị cáo Trần Minh T, Lê Văn H, Trương Bá V, Vương Thị Ngọc H, Lâm Quốc H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ