vanban.org

Bản án 195/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Bùi Thị Hải Y.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Hải Y ly hôn với ông Nguyễn Anh T. Quan hệ hôn nhân giữa bà Y và ông T (theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 24, đăng ký ngày 13/3/2017 tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai) chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Bùi Thị Hải Y.
  • Căn cứ chính? Luật Tổ chức Tòa án nhân dân; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Tổ chức
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 195/2025/HNGĐ-ST.
Ngày: 31/7/2025.
Về việc “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Phú.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hương Thủy;

Ông Cao Quốc Hưng.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – TP . Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ngày 31 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự sơ thẩm số: 1235/2025/TLST-HNGĐ ngày 19/5/2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 491/2025/QĐXXST-DS ngày 15/7/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Hải Y, sinh năm 1996. Hộ chiếu số: xxxxxxxx cấp ngày 04/5/2019. Địa chỉ: C đường L, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai, (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1990. Hộ chiếu số: xxxxxxxx cấp ngày 26/4/2019. Địa chỉ: B đường H, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh, (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung Đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Bùi Thị Hải Y trình bày: Về quan hệ hôn nhân, bà Bùi Thị Hải Y và ông Nguyễn Anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai cấp Giấy Chứng nhận kết hôn số 24, đăng ký ngày 13/3/2017. Sau khoảng thời gian chung sống, vài năm gần đây cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, mặc dù cả hai bên đã tìm mọi cách hàn gắn nhưng vẫn không thể giải hòa, hai người luôn bất đồng quan điểm sống, sau đó hai vợ chồng sống ly thân. Bà Y nhận thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông T không còn, mục đích hôn nhân của hai người không đạt được, không muốn kéo dài nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông T theo quy định.

Về con chung: Bà Y khai giữa bà và ông T có 01 người con chung tên Nguyễn Duy H (sinh ngày 24/9/2017); bà Y yêu cầu Tòa án giao con chung cho bà là người trực tiếp nuôi dưỡng; bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Hai người tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Bà Y trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.

Đồng thời, bà Y có đơn yêu cầu không hòa giải đoàn tụ và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

- Theo nội dung bản tự khai, bị đơn ông Nguyễn Anh T trình bày: Ông T xác nhận những lời trình bày của bà Y về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Ông và bà Y kết hôn, đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai cấp Giấy Chứng nhận kết hôn số 24, đăng ký ngày 13/3/2017. Sau thời gian dài chung sống, hai bên có nhiều mâu thuẫn, không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Y yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý ly hôn. Ông và bà Y có 01 người con chung tên Nguyễn Duy H (sinh ngày 24/9/2017), cháu H từ nhỏ đến nay đều sống với mẹ, do đó ông đồng ý yêu cầu của bà Y là giao cho con chung cho bà Y trực tiếp nuôi dưỡng; ông không cấp dưỡng nuôi con; ông không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Ông T cũng yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và yêu cầu không tiến hành hòa giải đoàn tụ.

- Theo Bản ghi nhận ý kiến của con chung trên 7 tuổi, cháu Nguyễn Duy H (sinh ngày 24/9/2017) trình bày: Nếu cha mẹ cháu ly hôn, không còn sống chung với nhau nữa thì cháu mong muốn được ở chung với mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Xét thấy, nguyên đơn - bà Bùi Thị Hải Y khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn - ông Nguyễn Anh T, do đó căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “Ly hôn”. Bị đơn có địa chỉ tại phường H, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 3 Nghị quyết số 225/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội, vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Xét Bản tự khai, Đ đề nghị không hòa giải đoàn tụ và đơn xin vắng mặt của đương sự đã được thực hiện theo quy định nên đây được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Do nguyên đơn và bị đơn đều có đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Qua lời trình bày của hai bên và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Bà Y và ông T tự nguyện tìm hiểu, tự nguyện yêu nhau, sau đó tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai cấp Giấy Chứng nhận kết hôn số 24, đăng ký ngày 13/3/2017. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, hai người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Sau thời gian chung sống, hai bên phát sinh mâu thuẫn không thể giải hòa, bà Y và ông T cũng đã sống ly thân nên vợ chồng không có sự gắn kết. Do hai bên hoàn toàn không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Y yêu cầu được ly hôn với ông T là có cơ sở. Mặt khác, tại bản tự khai ông T cũng xác định không còn tình cảm và đồng ý ly hôn với bà Y, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận cho bà Y ly hôn với ông T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Về con chung: Theo tài liệu, chứng cứ và lời xác nhận của hai người, bà Y và ông T có 01 người con chung tên Nguyễn Duy H (sinh ngày 24/9/2017). Bà Y yêu cầu sau khi ly hôn, giao con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con. Xét thấy, theo bản tự khai ghi nhận ý kiến của con chung trên 7 tuổi – cháu H có nguyện vọng được sống chung với mẹ; đồng thời, ông T cũng thống nhất đồng ý với yêu cầu nêu trên của bà Y, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của hai bên: Giao cháu Nguyễn Duy H (sinh ngày 24/9/2017) cho bà Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; ông T không cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung: Hai bên xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 115, Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 3 Nghị quyết số 225/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội Về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, các luật tố tụng và luật khác có liên quan;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Bùi Thị Hải Y.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Hải Y ly hôn với ông Nguyễn Anh T.

Quan hệ hôn nhân giữa bà Y và ông T (theo Giấy Chứng nhận kết hôn số 24, đăng ký ngày 13/3/2017 tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố L, tỉnh Lào Cai) chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung: Bà Bùi Thị Hải Y và ông Nguyễn Anh T có 01 (một) người con chung tên: Nguyễn Duy H (sinh ngày 24/9/2017). Công nhận sự thỏa thuận giữa bà Y và ông T về việc: Giao con chung – cháu Nguyễn Duy H cho bà Bùi Thị Hải Y trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về cấp dưỡng: Ông Nguyễn Anh T không cấp dưỡng cho con. Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho con đối với ông T cho đến khi phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng theo yêu cầu hoặc theo quy định pháp luật.

- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Bùi Thị Hải Y phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà bà Y đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0072057 ngày 15/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2), Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Y đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền, thời hạn kháng cáo: Bà Bùi Thị Hải Y, ông Nguyễn Anh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị bản án theo quy định pháp luật.

4. Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ