vanban.org

Bản án 195/2024/LĐ-ST — Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cà C.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Cà C với Công ty TNHH S (Việt Nam) từ tháng tháng 02/2009 đến tháng 12/2009 là vô hiệu. Điều chỉnh Sổ bảo hiểm xã hội mã số 8009002498 do Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An cấp cho bà Nguyễn Thị Cà C do Công ty TNHH S (Việt Nam) nộp từ tháng tháng 02/2009 đến … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Nguyễn Thị Cà C "tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu""
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cà C.
  • Căn cứ chính? Điều 30 Bộ luật Lao động; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 190 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 195/2024/LĐ-ST
Ngày: 31-12-2024
V/v “Tranh chấp yêu cầu
tuyên bố hợp đồng lao động
vô hiệu”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Chí Lin - Cán bộ hưu trí.

2. Bà Nguyễn Thị Rạt – Cán bộ hưu trí, nguyên Phó Phòng Lao động Thương binh xã hội huyện Đức Hòa.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân -Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Còn - Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 209/2024/TLST

- LĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2024/QĐXXST - LĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2024/QĐ-ST ngày 06 tháng 12 năm 2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cà C, sinh năm 1990. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Hoài P, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An.(xin vắng mặt)

2. Bị đơn: Công ty TNHH S (Việt Nam) (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1 Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1992. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

3.2 Bảo hiểm xã hội (BHXH) tỉnh Long An. (xin vắng mặt)

Trụ sở: số 08 Tuyến tránh, phường D, Thành phố T, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cà C trình bày:

Từ tháng 02/2009 đến tháng 12/2009, bà có cho em bà là bà Nguyễn Thị M mượn chứng minh nhân dân để đi làm tại Công Ty TNHH S (Việt Nam) với vị trí là công nhân từ tháng 02/2009 đến tháng 12/2009 mang tên Nguyễn Thị Cà C và đóng bảo hiểm xã hội số 8009002498 trùng với số số bảo hiểm 7914238394 của bà, do bà cũng đi làm từ tháng 01/2009 đến tháng 07/2020 qua nhiêu công ty và đóng bảo hiểm với số bảo hiểm 7914238394. Do không am hiểu về pháp luật và muốn giúp đỡ bà M để có thể đi làm lo cho gia đình. Nên bà cho bà M mượn chứng minh nhân dân để đi làm. Việc bà cho bà M mượn chứng minh nhân dân là không đúng theo quy định của pháp luật và người thực hiện hợp đồng với Công Ty TNHH S (Việt Nam) từ tháng 02/2009 đến tháng 12/2009, không phải bà.

Nay yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết:

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa Nguyễn Thị Cà C (nhưng người lao động thực tế là Nguyễn Thị M) với Công ty TNHH S (Việt Nam) từ tháng 02/2009 đến tháng 12/2009 vô hiệu do không đúng nhân thân để bà Cà C đủ điều kiện hưởng Bảo hiểm xã hội theo qui định.

- Điều chỉnh thông tin cá nhân trên số BHXH số 8009002498 từ tháng 02/2009 đến tháng 12/2009 từ tên Nguyễn Thị Cà C với quá trình tham gia tại Công ty TNHH S (Việt Nam) thành tên Nguyễn Thị M cho đúng nhân thân.

Bị đơn Công ty TNHH S (Việt Nam) vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M trình bày:

Trước đây bà có mượn chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị Cà C để đi làm tại Công ty TNHH S (Việt Nam) và có tham gia bảo hiểm xã hội số Sổ bảo hiểm 8009002498.

Nay do trùng thời gian đóng BHXH bà Nguyễn Thị Cà C không thể lãnh tiền bảo hiểm được. Nên bà đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cà C, đề nghị Tòa án tuyên vô hiệu Hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Cà C (do bà làm việc) với Công ty TNHH S (Việt Nam) từ tháng 02/2009 đến tháng 12/2009 để bà Nguyễn Thị Cà C đủ điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội theo đúng quy định.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh L có văn bản trình bày:

Căn cứ vào hồ sơ, dữ liệu quản lý thu, sổ, thẻ và chính sách BHXH, bảo hiểm y tế, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, Bảo hiểm xã hội tỉnh L xác định bà Nguyễn Thị Cà C có thời gian đóng BHXH từ tháng tháng 02/2009 đến tháng 12/2009 với số sổ BHXH 8009002498 tại Công ty TNHH S (Việt Nam).

Qua tra cứu dữ liệu chi trả chính sách BHXH, BHTN đến ngày 21/11/2024, cơ quan BHXH đã giải quyết chế độ BHXH một lần với thời gian đóng BHXH trên theo Quyết định số 07257/QĐ-BHXH ngày 03/01/2011 của BHXH huyện Đ với thời gian từ 01/2009 đến 09/2011, số tiền hưởng là 1.524.750 đồng.

Theo quy trình thu BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN; quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT không quy định người lao động đang làm việc tại đơn vị sử dụng lao động cung cấp hợp đồng lao động trong thành phần hồ sơ khi đăng ký tham gia BHXH, BHYT, BHTN, BHTNLĐ, BNN. Nên BHXH tỉnh L không cung cấp được theo yêu cầu của TAND huyện Đức Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Về trình tự thủ tục đảm bảo theo quy định của tố tụng trong việc thu thập chứng cứ, xác minh. Toà án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ và quyền hạn. Các bên đương sự thực hiện đúng tố tụng về quyền và nghĩa vụ.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cà C về việc vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Cà C (do Nguyễn Thị M làm việc) với Công ty TNHH S (Việt Nam) từ tháng tháng 02/2009 đến tháng 12/2009 do hợp đồng được ký kết không đúng với nhân thân, vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại Điều 15 Bộ luật lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Điều chỉnh tên Nguyễn Thị Cà C trên sổ bảo hiểm xã hội số 8009002498 thành tên Nguyễn Thị M.

Các đương sự không yêu cầu xử lý hậu quả khi hợp đồng lao động vô hiệu, do đó đề nghị không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cà C nêu trên, Hội đồng xét xử thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự. Công ty TNHH S (Việt Nam) có trụ sở tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tư cách tố tụng: Bà Nguyễn Thị Cà C là người khởi kiện được xác định là nguyên đơn, Công ty TNHH S (Việt Nam) là người bị kiện được xác định tư cách là bị đơn. Bà Nguyễn Thị M và BHXH tỉnh L được xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Thời hiệu khởi kiện: Các bên đương sự không yêu cầu áp dụng về thời hiệu nên căn cứ quy định tại Điều 190 Bộ luật lao động năm 2019, Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không áp dụng thời hiệu.

Sự có mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cà C, bà Nguyễn Thị M, đại diện BHXH tỉnh L có đề nghị được vắng mặt, bị đơn Công ty TNHH S (Việt Nam) đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự này theo quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hợp đồng lao động: Bà Nguyễn Thị Cà C khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Cà C do bà Nguyễn Thị M trực tiếp tham gia lao động với Công ty TNHH S (Việt Nam) là vô hiệu. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Cà C và bà M thống nhất trình bày: Bà Nguyễn Thị Cà C có cho bà Nguyễn Thị M mượn chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Cà C để xác lập hợp đồng lao động và tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ tháng tháng 02/2009 đến tháng 12/2009 tại Công ty TNHH S (Việt Nam) theo sổ BHXH số 8009002498. Đồng thời, từ tháng 07/2004 đến tháng 06/2023 bà Nguyễn Thị Cà C cũng tham gia lao động tại công ty khác và tham gia đóng bảo hiểm xã hội theo số sổ là 7914238394.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào sổ bảo hiểm xã hội số 7914238394, thể hiện bà Nguyễn Thị Cà C đi làm tại Công ty TNHH P1, tham gia bảo hiểm từ tháng 07/2004 đến tháng 06/2023 và sổ BHXH số 8009002498 cũng thể hiện bà Nguyễn Thị Cà C đi làm tại Công ty TNHH S (Việt Nam), tham gia bảo hiểm từ tháng tháng 02/2009 đến tháng 12/2009.

Như vậy, có căn cứ xác định trong khoảng thời gian tháng 02/2009 đến tháng 12/2009 bà Nguyễn Thị Cà C cùng lúc tham gia bảo hiêm xã hội tại 02 doanh nghiệp là Công ty TNHH P1 và Công ty TNHH S (Việt Nam). Do đó, việc bà Nguyễn Thị M ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH S (Việt Nam) nhưng với tên bà Nguyễn Thị Cà C là vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 30 Bộ luật lao động năm 1994 (đã được sửa đổi bố sung năm 2002, 2006, 2007) nên có cơ sở xác định hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Cà C và Công ty TNHH S (Việt Nam) là không có hiệu lực. Do đó, nay bà Nguyễn Thị Cà C yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Cà C và Công ty TNHH S (Việt Nam) trong khoảng thời gian tháng 02/2009 đến tháng 12/2009 là vô hiệu do không đúng người lao động tham gia ký kết hợp đồng lao động, người lao động trực tiếp tham gia lao động là bà Nguyễn Thị M trong khi thông tin ký hợp đồng lao động mang tên bà Nguyễn Thị Cà C vô hiệu là có cơ sở nên được chấp nhận.

Bà Nguyễn Thị Cà C, Công ty TNHH S (Việt Nam), bà Nguyễn Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng lao động bị vô hiệu nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Cà C tự nguyện chịu án phí lao động sơ thẩm thay cho Công ty TNHH S (Việt Nam) nên Công ty TNHH S (Việt Nam) không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 32, Điều 35, Điều 39, Điều 68 Điều 91, Điều 93, Điều 97, Điều 147, Điều 195, Điều 196, Điều 227, 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 30 Bộ luật lao động năm 1994 (đã được sửa đổi bố sung năm 2002, 2006,2007); Điều 190 Bộ luật lao động năm 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cà C.

Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Cà C với Công ty TNHH S (Việt Nam) từ tháng tháng 02/2009 đến tháng 12/2009 là vô hiệu.

Điều chỉnh Sổ bảo hiểm xã hội mã số 8009002498 do Bảo hiểm xã hội tỉnh Long An cấp cho bà Nguyễn Thị Cà C do Công ty TNHH S (Việt Nam) nộp từ tháng tháng 02/2009 đến tháng 12/2009 tại Bảo hiểm xã hội tỉnh L thành tên Nguyễn Thị M.

2. Về án phí lao động sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Cà C phải chịu 300.000 đồng án phí lao động sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước, chuyển 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Cà C đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006133 ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa sang thi hành án phí.

3. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ để xin xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ