- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn Thịnh - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản". Xử phạt Đặng Văn Th …..tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:195/2024/HSST Ngày: 25/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thuận
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hồng Hải
2. Ông Trần Xuân Hoàn
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 169/2024/HSST ngày 05/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188//2024 /QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với:
Bị cáo: Đặng Văn Th; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh năm 1994. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Xóm Trại Gi, xã Nam H, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán Dìu; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa 6/12; Nghề nghiệp:Lao động tự do; Con ông Đặng Văn B (Đã chết) và con bà Nguyễn Thị S; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con chưa có.
- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2024 đến nay (Có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa cho bị cáo:
1. Bà Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1985
Trơ giúp viên pháp lý Trung tâm trợi giúp Pháp lý nhà nước tỉnh Thái
Nguyên.
2. Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1984
Trơ giúp viên pháp lý Trung tâm trợi giúp Pháp lý nhà nước tỉnh Thái
Nguyên.
Bị hại: Anh Nguyễn Văn S, sinh ngày 06/9/2006
Địa chỉ : Xóm Soi 2, xã Nhã L, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên.
. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Ngọc T, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Tổ 4, phường Quang T, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).
Người làm chứng: Anh Nông Hoàng Kh, sinh năm 2003
Địa chi: Xóm Hải Minh, xã Tân K, huyện PB, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tháng 6/2024, Đặng Văn Th đến thuê phòng trọ số 01 của nhà bà Đặng Thị Duyên (sinh năm 1972) tại tổ dân phố Mãn Chiêm, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình thuê trọ tại đây, Th có quen biết với anh Ma Văn Tú (sinh năm 1994; trú tại thôn Phiêng Rào, xã Năng Khả, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang) cũng thuê phòng trọ số 09 của nhà bà Duyên. Ngày 24/7/2024, anh Nguyễn Văn S (sinh ngày 06/9/2006; trú tại xóm Soi 2, xã Nhã Lộng, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên) đến chơi và ngủ lại phòng cùng anh Tú. Do bản thân không có nghề nghiệp và không có tiền tiêu sài nên Th nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, Th quan sát và biết anh S đang sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu trắng nên Th nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên của anh S. Khoảng 06 giờ ngày 02/8/2024, Th đi sang phòng trọ số 09 của anh Tú mở cửa thì nhìn thấy anh S đang nằm ngủ một mình, cạnh đầu bên trái anh S có đặt 01 điện thoại Iphone 12 Promax trong trạng thái đang sạc pin. Th đi vào phòng, đến vị trí anh S đặt điện thoại, rút sạc điện thoại ra và đút chiếc điện thoại trên vào túi quần bên phải phía trước rồi đi ra khỏi phòng. Sau đó, Th đi bộ ra đường và bắt xe buýt lên khu vực thành phố Thái Nguyên để tìm nơi tiêu thụ tài sản. Theo Th khai, Th đã bán chiếc điện thoại Iphone 12 Promax trộm cắp được tại cửa hàng Tuyến Anh Mobile ở số nhà 445 đường Lương Ngọc Quyến, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên được 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó, Th vứt sim của điện thoại Iphone 12 Promax ra đường thuộc khu vực tổ 4, phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Số tiền bán chiếc điện thoại, Th đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi phát hiện bị trộm cắp tài sản, ngày 24/8/2024, anh Nguyễn Văn S đã làm đơn trình báo đến Công an thành phố Phổ Yên đồng thời cung cấp hình ảnh chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax bị chiếm đoạt cùng các tài liệu có liên quan cho Cơ quan Công an để giải quyết.
Căn cứ vào các tài liệu đã thu thập, ngày 25/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 3556/ĐCSHS đề nghị Hội đồng định giá tài sản thành phố Phổ Yên định giá chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax trong vụ án. Tại bản Kết luận định giá số 91/KLĐG ngày 26/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Phổ Yên kết luận: “01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng, dung lượng 128, điện thoại đã qua sử dụng. Hiện trạng điện thoại không thu hồi được, tình trạng điện thoại trước khi bị trộm cắp còn nguyên vẹn và hoạt động bình thường. Giá trị còn lại của điện thoại trước khi bị trộm cắp .... là 11.500.000 đồng (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng chẵn)”
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên tiến hành khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, cho Đặng Văn Th xác định chiếc điện thoại đã trộm cắp thông qua hình ảnh do anh Nguyễn Văn S và Nông Hoàng Khôi (sinh năm 2003; trú tại xóm Hải Minh, xã Tân Kim, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên – là người bán điện thoại cho anh S) cung cấp. Kết quả, Đặng Văn Th xác định hình ảnh chiếc điện thoại do anh S và anh Khôi cung cấp chính là chiếc điện thoại mà Th đã trộm cắp vào ngày 02/8/2024. Lời khai của bị can Th phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của anh Nguyễn Văn S bị chiếm đoạt, quá trình điều tra đến nay không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 06/9/2024, Đặng Văn Th đã bồi thường số tiền 10.000.000 đồng cho anh Nguyễn Văn S. Anh S đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 177/CT- VKSPY, ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Đặng Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã mô tả và ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình.
Kết thúc phần xét hỏi, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,i, s khoản 1và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Đặng Văn Th từ đến tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong, bị hại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét..
Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của anh Nguyễn Văn S bị chiếm đoạt, quá trình điều tra đến nay không thu hồi được nên không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Đánh giá của Hội đồng xét xử: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu được và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 06 giờ ngày 02/8/2024, tại khu vực tổ dân phố Mãn Chiêm, phường Hồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, Đặng Văn Th đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu trắng, dung lượng 128GB của anh Nguyễn Văn S có giá trị là 11.500.000 đồng. Sau đó Th đã bán chiếc chiếc điện thoại này tại cửa hàng Tuyến Anh Mobile ở số nhà 445 đường Lương Ngọc Quyến, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên được 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) và đã tiêu xài cá nhân hết. Về trách nhiệm dân sự: Đến nay đã giải quyết xong.
Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ.
Nội dung Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định như sau:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
.Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng:
Xét tính chất của vụ án là ít trọng, nhưng hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ nên cần phải được xử lý nghiêm bằng pháp luật Hình sự để giao dục riêng và ngăn ngừa phạm tội chung.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự phạm vì thiếu ý thức rèn luyện bản thân, hám lời bất chính đã đưa bị cáo đến con đường phạm tội này. Lần phạm tội này thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trong, hơn nữa trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, không quanh co đổ lỗi cho người khác gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng trong việc điều tra làm rõ hành vi phạm tội, tự nguyện bồi thường khắc phục thiệt hại cho bị hại nên được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hìnhh sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Từ những nhận định trên, với nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc mức hình phạt phù hợp để bị cáo có cơ hội sửa chữa, làm lại cuộc đời.
Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp được hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Xét nhân thân và điều kiện kinh tế của bị cáo thấy: Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, tại phiên tòa, bị cáo khai không có tài sản riêng, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tiền bồi thường, khắc phục hậu quả nên không có yêu cầu gì khác. Phần trách nhiệm dân sự đến nay đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của anh Nguyễn Văn S bị chiếm đoạt, quá trình điều tra đến nay không thu hồi được nên không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, anh Trần Ngọc T (sinh năm 1991; trú tại tổ 4, phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên) là chủ cửa hàng Tuyến Anh Mobile. Quá trình điều tra, anh T xác định vào ngày 02/8/2024, Th không đến cửa hàng và anh T không mua bán, trao đổi gì với Th. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với anh Trần Ngọc T về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1.Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản". Xử phạt Đặng Văn Th …..tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/8/2024
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - VKSND thành phố PY; - Công an thành phố PY - Chi cục THADSTPPY; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên. - Bị cáo; bị hại; - Lưu HS; Lưu BP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ngô Thị Thu Thuận |