vanban.org

Bản án 195/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 28/08/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Nhựt L. Buộc bà Trịnh Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Lê Nhựt L số tiền 20.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà Lê Nhựt L với bà Trịnh Thị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Nhựt L. Buộc bà Trịnh Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Lê Nhựt L số tiền 20.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 195/2024/DS-ST
Ngày 28-8-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều. Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Sơn.

Bà Trần Thị Hoài Yên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Tấn Thiên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 134/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 296/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Nhựt L, sinh năm 1974 (có mặt).

Địa chỉ cư trú tại: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Bà Trịnh Thị H, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú tại: Khóm B, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 01 năm 2024 và tại phiên toà nguyên đơn bà Lê Nhựt L trình bày: Vào ngày 09 tháng 3 năm 2022 âm lịch bà có cho bà Trịnh Thị H vay số tiền 15.000.000 đồng, sau đó khoảng 5 ngày bà H vay tiếp số tiền 5.000.000 đồng, tổng cộng bà H vay của bà 20.000.000 đồng; lãi suất mỗi tháng 1.400.000 đồng, thời hạn vay thoả thuận bằng lời nói là là 03 tháng. Khi đến hạn bà có yêu cầu bà H trả tiền nhưng bà H không trả, bà H đã trả lãi đến ngày 09 tháng 01 năm 2023 thì ngưng trả lãi và cũng không trả vốn cho bà. Bà yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Trịnh Thị H trả cho bà số tiền 20.000.000 đồng và lãi suất 20%/năm tính từ ngày 09 tháng 01 năm 2023 cho đến nay. Tại phiên toà bà Lê Nhựt L không yêu cầu bà Trịnh Thị H trả tiền lãi.

-1-

- Bị đơn bà Trịnh Thị H đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng bà Trịnh Thị H vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của bà Lê Nhựt L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Nhựt L khởi kiện yêu cầu bà Trịnh Thị H trả tiền vay và tiền lãi. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Trịnh Thị H là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Trịnh Thị H.

Tại phiên tòa bà Lê Nhựt L yêu cầu bà Trịnh Thị H trả bà số tiền 20.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Đối với bà Trịnh Thị H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng để hòa giải xét xử nhưng bà H vắng mặt, không cung cấp lời khai cho Tòa án và không có ý kiến đối với yêu cầu của bà L. Theo hợp đồng cho mượn vốn ngày 09 tháng 3 năm 2022 do bà L cung cấp có chữ ký của bà Trịnh Thị H thể hiện bà H có nhận của bà L số tiền 20.000.000 đồng. Do đó, bà L yêu cầu bà H trả số tiền 20.000.000 đồng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tại phiên tòa bà L không yêu cầu trả lãi nên không xem xét.

Về án phí: Do yêu cầu của bà Lê Nhựt L được chấp nhận nên bà L không phải chịu án phí, bà L đã nộp tạm ứng án phí số tiền 600.000 đồng được nhận lại. Bà Trịnh Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền 1.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật dân sự và áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Nhựt L. Buộc bà Trịnh Thị H có nghĩa vụ trả cho bà Lê Nhựt L số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

-2-

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Bà Lê Nhựt L không phải chịu án phí, bà L đã nộp tiền tạm ứng án phí 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003365 ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà Lê Nhựt L được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Buộc bà Trịnh Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

Án xử sơ thẩm, bà Lê Nhựt L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Trịnh Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ