- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 195/2023/HS-ST Ngày 05-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân;
2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 201/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 225/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh H, sinh năm 1982 tại tỉnh Vĩnh Long; thường trú: Số 241 khóm T B, phường T H, thành phố V L, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm không rõ; bị cáo có 07 anh chị ruột, lớn nhất sinh năm không rõ; nhỏ nhất sinh năm không rõ; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/3/2022 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Anh Thạch Sa R, sinh năm 1998; thường trú: Khóm C, Phường C, thành phố T V, tỉnh Trà Vinh; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Trung Tr, sinh năm 1964; địa chỉ: Số 81B, tổ S, khu phố Đ Ch, phường T Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Bá T, chị Nguyễn Trương Thùy L; vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Kim Ngọc Qu; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bản thân Nguyễn Thanh H và anh Thạch Sa R cùng làm chung tại Công ty Veneer Tr Tr, có trụ sở tại số 81/68 đường V V, khu phố Đ Ch, phường T Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Quá trình làm chung, anh R và H thường xuyên uống rượu, bia với nhau. H nhờ anh R mua bia ghi nợ tại tiệm tạp hóa gần công ty để uống nhưng H chưa trả tiền cho anh R.
Lúc 14 giờ 00 phút ngày 19/9/2021, khi anh R đang ngồi uống rượu, bia trước phòng ở trong Công ty Veneer Tr Tr thì H đi ngang qua. Anh R đòi tiền của H để trả tiền bia mua thiếu trước đó nhưng H không trả nên giữa H và anh R xảy ra cãi nhau và xô xát. Anh R dùng ghế nhựa ném về hướng người H nhưng không trúng, cả hai được mọi người can ngăn. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi anh R cùng anh Nguyễn Bá T và chị Nguyễn Trương Thùy L đang nhậu tại phòng ở của anh T trong khu sinh hoạt chung của Công ty Veneer Tr Tr thì H đi đến đứng ở trước cửa phòng xin được nhậu chung nhưng anh T không đồng ý. Cùng lúc, H đi về phòng ngủ của mình và nhớ lại chuyện bị anh R ném ghế vào người, H liền lấy 01 dao găm dài khoảng 25cm, cán dao màu xanh, lưỡi dao bằng kim loại có mũi nhọn, trên sống dao có hình răng cưa (dao này có sẵn trong phòng của H) đi đến phòng anh T, mục đích để đánh anh R. Khi đến nơi, H đứng ở ngoài cửa phòng và nói “Tụi bây ở trong đó luôn đi, ra tao đâm chết”. Nghe H nói vậy, anh T đi ra nói “Mày nói ai”. Lúc này, anh R cầm 01 dao bằng kim loại dài khoảng 25 cm (không thu hồi được) trong phòng anh T chạy ra chém 01 cái vào vùng đỉnh đầu bên phải của H làm chảy máu. Thấy vậy, anh T chạy vào can ngăn đẩy anh R vào bên trong phòng, H đứng bên ngoài cửa tiếp tục chửi mắng. Lúc này, anh R cầm 01 chày gỗ dùng để đập nước đá ở trong phòng anh T chạy ra đánh nhau với H. R và H xông vào đánh nhau, rồi ôm vật nhau. Lúc này, H cầm con dao găm bằng tay phải và vòng tay ra phía sau lưng của anh R đâm một cái trúng vào giữa cột sống ngang với hai vai của anh R tại vị trí đốt sống D2 và D3, làm anh R ngã vào xe môtô đậu kế bên và H cũng ngã theo đè lên người anh R. Cùng lúc này, anh T và chị L chạy đến kéo H và anh R ra thì phát hiện 01 con dao găm đang cắm vào vùng giữa cột sống ngang với hai vai của anh R, đồng thời can ngăn H ra. Thấy anh R và H bị thương nên mọi người đưa anh R và H đi cấp cứu tại Bệnh viện Qu Đ 4. Sau đó anh R được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B D điều trị thương tích.
Quá trình cấp cứu và chuyển viện điều trị các Bệnh viện đã làm thất lạc con dao găm cắm trong người anh R. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh tại Bệnh viện Qu Đ 4 và Bệnh viện đa khoa tỉnh B D nơi anh R cấp cứu và điều trị thương tích nhưng chưa xác định được con dao trên bị thất lạc ở đâu, hiện không thu hồi được.
Căn cứ Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0769/TgT/2021 ngày 03/11/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai, kết luận thương tích của Thạch Sa R, như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Tổn thương gần toàn bộ tủy ngực ngang D3 (tủy ngực kiểu khoanh đoạn), gây liệt hai chi dưới, mất cảm giác từ vùng vú trở xuống dưới, đại tiểu tiện không tự chủ, (Áp dụng Chương 1, Mục VI.2.4). Tỷ lệ: 97%;
- Tổn thương gãy mỏm gai đốt sống D2-D3 (Áp dụng Chương 7 mục XII.4.2). Tỷ lệ 16%.
- Tổn thương trật khớp vai phải (Áp dụng Chương 7, mục II.2.5.1). Tỷ lệ: 03%.
- Sẹo vùng lưng (ngang D2,D3) kích thước (04x0.3)cm (Áp dụng Chương 8, mục I.2) Tỷ lệ: 02%.
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Thạch Sa R - 1998 áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư là: 98% (Chín mươi tám phần trăm).
Căn cứ Kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 0774/GĐHS/2021 ngày 20/11/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai, giám định việc người bị hại Thạch Sa Rây nếu không được cấp cứu kịp thời thì có khả năng dẫn đến bị tử vong hay không? Kết luận theo nội dung trưng cầu, yêu cầu giám định: Vết thương lưng cạnh trái cột sống vùng lưng giữa hai xương bả vai dài 03cm, tổn thương gần toàn bộ tủy ngực đoạn D3, gãy mỏm gai D2, D3 và đau vai phải, trật khớp vai phải là dạng tổn thương cấp cứu, có thể trì hoãn. Vì vậy, nếu không cấp cứu kịp thời thì không dẫn đến tử vong tức thì.
Căn cứ Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0768/TgT/2021 ngày 03/11/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai, kết luận thương tích của Nguyễn Thanh H, sinh năm 1982 như sau: Sẹo vùng đỉnh đầu bên phải kích thước 02x0,2cm (Áp dụng Chương 8, Mục I.1). Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0769/TgT/2021 ngày 03/11/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai; Kết luận giám định pháp y trên hồ sơ số 0774/GĐHS/2021 ngày 20/11/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai và Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0768/TgT/2021 ngày 03/11/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai.
Đối với thương tích của Nguyễn Thanh H, H có đơn không khởi tố vụ án, thương tích đã lành, không ảnh hưởng đến sức khỏe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương không đặt ra xem xét.
Tại Cáo trạng số: 363/CT-VKS-DA ngày 02 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố Nguyễn Thanh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Cố ý gây thương tích” đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 09 năm đến 10 năm tù.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thạch Sa R yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh H bồi thường tổng cộng số tiền 45.000.000 đồng, bao gồm: Tiền khám chữa bệnh 30.000.000 đồng, tiền xe đi lại và ăn uống sau quá trình điều trị tại bệnh viện là 15.000.000 đồng; bị cáo H đã bồi thường cho bị hại R được 40.000.000 đồng. Ngoài ra, bị hại Thạch Sa R yêu cầu tiền thiệt hại về tinh thần với số tiền tương đương với 50 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định 1.490.000 đồng x 50 tháng = 74.500.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại tổng cộng số tiền nêu trên nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với bị hại.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt và trách nhiệm dân sự đồng thời lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bị hại Thạch Sa R có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị hại.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo; bị hại; người làm chứng; các kết quả giám định thương tích và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 19/9/2021, tại Công ty Veneer Tr Tr địa chỉ số 81/68 đường V V, khu phố Đ Ch, phường T Đ H, thành phố D A, tỉnh Bình Dương. Nguyễn Thanh H dùng dao nhọn gây thương tích cho bị hại Thạch Sa R, tỷ lệ thương tật 98%.
Như vậy, hành vi trên của bị cáo dùng dao nhọn gây thương tích cho bị hại 98% đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng số: 363/CT– VKS-DA ngày 02 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường khắc phục một phần hậu quả cho bị hại; bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự và là người lao động.
Về hình phạt: Xét bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, chỉ vì một mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương đồng thời tội phạm của bị cáo thực hiện ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thạch Sa R yêu cầu bị cáo Nguyễn Thanh H bồi thường tổng cộng số tiền 45.000.000 đồng, bao gồm: Tiền khám chữa bệnh 30.000.000 đồng, tiền xe đi lại và ăn uống sau quá trình điều trị tại bệnh viện là 15.000.000 đồng; bị cáo Hiền đã bồi thường cho bị hại R được 40.000.000 đồng. Ngoài ra, bị hại Thạch Sa R yêu cầu tiền thiệt hại về tinh thần với số tiền tương đương với 50 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định 1.490.000 đồng x 50 tháng = 74.500.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại tổng cộng số tiền nêu trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với bị hại.
Đối với thương tích của Nguyễn Thanh H, H có đơn không khởi tố vụ án, thương tích đã lành, không ảnh hưởng đến sức khỏe nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D A, tỉnh Bình Dương không đặt ra xem xét, là đúng theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm d khoản 4 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/3/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các Điều 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H bồi thường cho bị hại Thạch Sa R số tiền 79.500.000 (bảy mươi chín triệu năm trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3 Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Thanh H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.975.000 (ba triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA