- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Hòa+ ĐB - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Thị Hoà; Trần Thị Hồng M và Phạm Thị Thu U phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 195/2023/HS-ST Ngày 17 - 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị M .
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Liên và ông Trần Văn Châu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê - Chức vụ: Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Thuận - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 184/2023/HSST, ngày 14 tháng 6 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2023/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 7 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Thị H , sinh ngày 14/06/1990; Tại: Đắk Lắk.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 1, phường T , thành phố B , tỉnh Đắk Lắk.
Nơi ở hiện nay: Số 117 Y Wang, phường E, thành phố B , tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Phạm Xuân Đ và con bà Tạ Thị H ; Bị cáo có chồng là Phạm Thanh Q , sinh năm 1990 và có 01 con sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/3/2023 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
2. Họ và tên: Trần Thị Hồng M , sinh ngày 07/05/1999; Tại: Đắk Lắk.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn 19, xã Ea K , huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Trần Văn T và con bà Bùi Thị B Bị cáo có chồng là Trần Mạc Phi Đ và có 01 con sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/3/2023 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
3. Họ và tên: Phạm Thị Thu U , sinh ngày 07/08/2000; Tại: Đắk Lắk.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn 04, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Phạm C t và con bà Hoàng Thị H ; Bị cáo chưa có chồng con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/3/2023 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Bị hại:
1/ Ông Trƣơng Phú N . Địa chỉ: Số 178/13 C, phường C, quận 1, thành phố H. (Vắng mặt).
2/ Bà Đặng Thị D . Địa chỉ: Số 178/13 C, phường C, quận 1, thành phố H (Vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Trần Thị Thu T . Địa chỉ: Thôn S , xã C , thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).
2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc T . Nơi ĐKHKTT: Thôn 6, xã H, huyện K , tỉnh Đắk Lắk . (Có mặt).
3/ Ông Nguyễn Anh T . Địa chỉ: Số 145 M, phường T . , thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).
4/ Bà Khổng Thị H . Địa chỉ: Số 145 M Hắc Đế, phường T . , thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).
5/ Bà Mai Thanh T . Địa chỉ: Số 143/01/02 Y M , phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).
6/ Ông Hồ Thanh T . Địa chỉ: Số 27/11 L, phường T , thành phố B , tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).
7/ Ông Nguyễn Ngọc C Địa chỉ: Số 22/8 B, phường T, thành phố B , tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt).
8/ Ông Nguyễn Văn B . Địa chỉ: Số 118/60 Y, phường E, thành phố B , tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2020 vợ, chồng anh Trương Phú N và chị Đặng Thị D , cùng trú tại 178/13 Cô Giang, phường , Quận 1, Thành phố H, mở tiệm Spa JIWON, tại địa chỉ 58 H, phường T, thành phố Buôn B. Quá trình kinh doanh, anh N và chị D thuê 03 nhân viên nữ gồm: Trần Thị Thu T ; Trần Thị Hồng M và Nguyễn Thị Ngọc T làm công việc mát xa, chăm sóc da và giảm béo cho khách hàng, chị D là người trực tiếp quản lý, điều hành tiệm Spa. Quá trình kinh doanh do bị khách phàn nàn về dịch vụ làm đẹp, sợ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nên tháng 10/2020, D chuyển tiệm Spa qua địa chỉ 56 Đ , phường T, thành phố B và thuê thêm 04 nhân viên gồm: Phạm Thị Thu U ; Vũ Thị L ; V và T (đều chưa xác định được lai lịch). Ngày 03/10/2020, Phạm Thị H đến tiệm Spa JIWON để làm liệu trình giảm béo trong thời gian 20 ngày với số tiền là 25.000.000 đồng. Khi hết liệu trình, do không giảm được 08kg như thoả thuận, nên H nhiều lần đến tiệm Spa tìm gặp D để đòi lại tiền. Do bị H liên tục đến tìm, có lời nói to tiếng nên D tránh né và bỏ về cơ sở làm đẹp của D ở thành phố N và giao lại cho chị T trông coi, quản lý, điều hành tiệm Spa. Thời điểm này, T , L , Trang, V và U đã nghỉ làm, chỉ còn T và M . Đầu tháng 12/2020, do T nghỉ làm một vài ngày để chuẩn bị đám cưới nên D điều Hoàng A và T (đều chưa xác định được lai lịch) là các nhân viên từ Cơ sở làm đẹp của D ở thành phố N lên thành phố Buôn Ma Thuột làm việc và giao cho H trông coi, quản lý tiệm Spa thay cho T . Ngày 04/12/2020, H sử dụng số điện thoại 0914XXXXXX gắn trong điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax màu Vàng, nhắn tin đến số điện thoại 0904xxxxxx của D với nội dung “Hoà làm giảm béo toàn thân bên Buôn Ma Thuột đây, nếu không trả tiền cho tao thì tao sẽ làm tới cùng, mất 01 lần không thích mà thích mất hết đúng không”, tuy nhiên chị D không nhắn tin trả lời lại. Sáng ngày 11/12/2020, H và một số người khách (chưa xác định được lai lịch) đến tiệm Spa JIWON gặp T , H và T để yêu cầu D trả lại tiền, do thấy H to tiếng, thái độ hung hăng nên T sợ bỏ ra quán cà phê gần đó uống cà phê. Khoảng 12 giờ cùng ngày, H đến quán cà phê đưa chìa khoá tiệm Spa cho T nhờ giữ giúp rồi H và T về lại thành phố Nha Trang. Khoảng 13 giờ cùng ngày, H sử dụng điện thoại di động và sim nêu trên gọi cho T hỏi “Bây giờ tiền của chị bọn mày tính sao, đưa chìa khoá tiệm đây cho tao”, thì T nói “Để em đưa”. Sau đó, T đến trước tiệm Spa JIWON đưa chìa khoá cho H rồi T đi về. Khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, H đến thẩm mỹ viện JIWON rồi mở cửa đi vào bên trong. Lúc này, H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu Vàng, gắn sim 0914XXXXXX nhắn tin cho chị D với nội dung “Lần này mày chết chắc rồi nha”, ý H nhắn như vậy là để thông báo cho D biết trong ngày hôm nay H sẽ bán, thanh lý tài sản ở tiệm Spa của D . Để bán được tài sản thuận lợi thì H sử dụng điện thoại di động trên vào ứng dụng mạng xã hội Facebook tạo 01 tài khoản lấy tên là Đặng D để giả là chị D đăng bán tài sản, ngoài ra H còn sử dụng tài khoản Messenger của H tên Phạm H đăng lên nhóm thanh lý đồ Spa ở thành phố Buôn Ma Thuột, với nội dung “Thanh lý đồ Spa thẩm mỹ viện” kèm nhiều hình ảnh chụp tài sản ở Spa JIWON. Sau đó, có một số người dân đến xem mua hàng, trong lúc H đang bán hàng thì U , M trên đường đi ăn tối ngang qua thấy vậy đi vào thì H hỏi tiền lương D còn nợ bao nhiêu, M nói khoảng 7.000.000 đồng, U n nói khoảng 4.000.000 đồng, H nói để H bán tài sản của D rồi bù lại tiền lương cho cả hai thì U n và M đồng ý. Lúc này, anh N và vợ Khổng Thị H đến tiệm hỏi mua giường Spa, H bán cho anh T , chị H 10 giường Spa (05 giường bằng gỗ và 05 giường bằng kim loại), 30 khăn trải nệm, màu xanh trắng, 10 nệm giường Spa, 10 ga bọc nệm bằng da màu trắng, 02 kệ gỗ loại 3 tầng với tổng số tiền là 6.800.000 đồng, H nói M cung cấp tài khoản ngân hàng cho anh T để anh T chuyển tiền vào tài khoản cho M coi như là bù vào tiền lương D còn nợ. Sau đó, anh T chuyển số tiền trên từ tài khoản ngân hàng Techcombank số 190317xxxxx đến tài khoản ngân hàng Vietinbank số 105872xxxxxx cho M , do H bớt cho anh T 200.000 đồng nên M đi ra trụ ATM gần đó rút đưa lại cho anh T số tiền 200.000 đồng, lúc này H nói với U n “Em lấy tủ lạnh về bán được thì bán không thì để dùng”, thì U n đồng ý nói “Để em lấy tủ lạnh về”. Sau đó, H bán cho chị Mai Thanh T 01 máy ly tâm màu trắng, hiệu 800-1 Centrifugal, 01 máy hấp màu trắng, hiệu TOWEL WAMER UV STERILIZER, RTD-23A và 01 xe đẩy 03 tầng bằng kim loại màu trắng với tổng số tiền là 1.000.000 đồng, bán cho chị Hồ Thanh T 01 máy xông hơi mặt màu trắng loại 01 cần, hiệu VAPOR & OZONE, model MS707, 750W, 01 đèn chiếu sáng trắng, vàng hiệu TODOM với tổng số tiền 1.000.000 đồng. Ngoài ra H còn bán một số tài sản cho một số người khác (chưa xác định được lai lịch) với số tiền thu được khoảng 6.000.000 đồng. Sau khi bán tài sản của chị D thì H còn lấy 01 máy Lade màu trắng, nhãn hiệu FSG17PREMIUM OPTSHR NDYAG, có 02 ống dẫn; 01 bơm kim tiêm, kích cỡ 26G x ½”, nhãn hiệu VINAHANKOOK; 01 gói ni lông trong suốt, kích thước (18 x 12) cm, bên trong 02 viên thuốc con nhộng, màu xanh trắng, kích thước (02 x 0,7) cm và lá cây đã khô; 01 lọ thủy tinh có chữ AQUALYX, LOT 2019/001, 2022- 06, chứa chất lỏng trong rồi thuê 01 chiếc xe ô tô Taxi loại 05 chỗ ngồi (chưa xác định được đặc điểm xe và lai lịch của người điều khiển) chở về để ở phòng trọ của H thuê ở địa chỉ 39C Nguyễn Thái Bình, xã H Thắng, thành phố Buôn Ma Thuột. Khoảng 10 ngày sau, H đăng lên mạng xã hội bán chiếc máy Lade với giá 16.000.000 đồng nhưng chưa ai mua nên chưa bán được. Còn U n và M , sau khi lấy được chiếc tủ lạnh của chị D thì U n thuê 01 người nam chạy dịch vụ Grap chở tủ lạnh về phòng trọ, còn M lấy 01 hộp nhựa bên trong có 120 viên nén hình búp màu vàng, 01 hộp giấy hiệu Doctor 100 bên trong có 81 mũi dao phẫu thuật bọc trong giấy bạc, 01 máy TM 268 – 5 In 1 MULTIPLE BEAUTY INSTRUMENT màu xám, xanh, 01 máy đốt cao tầng màu trắng, hiệu MEDICONICS EQUIPMENT BURN DEVICE LSBL, 01 quạt điện màu trắng, 08 gói săng mổ hiệu Bảo Thạch, 01 hộp bằng kim loại, 01 tô bằng kim loại, 01 hũ bằng kim loại, 01 ly bằng kim loại, 02 khay bằng kim loại kích thước khác nhau rồi thuê 01 chiếc xe ô tô Taxi loại 05 chỗ ngồi (chưa xác định được biển số, đặc điểm xe và lai lịch của người điều khiển) chở về phòng trọ cất giấu.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 85, ngày 06/5/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, xác định trị giá các tài sản như sau:
* Tài sản đã thu hồi được:
- 05 chiếc giường bằng gỗ kích thước (180×62×61) và 05 cái nệm bọc da màu trắng kích thước (190×80×10)cm, trị giá 7.250.000 đồng.
- 05 chiếc giường bằng kim loại kích thước (180×62×61) cm và 05 cái nệm bọc da màu trắng kích thước (190×80×10)cm, trị giá 7.250.000 đồng.
- 02 kệ bằng gỗ loại 3 tầng sơn màu trắng, kích thước (100×60×20)cm, trị giá 1.360.000 đồng.
- 30 cái khăn loại khăn lông, kích thước (180×80)cm, trị giá 3.300.000 đồng.
- 01 máy ly tâm màu trắng, hiệu 800 – 1 Centrifugal Machine made Chi na trị giá 720.000 đồng.
- 01 xe đẩy bằng kim loại màu trắng loại 3 tầng kích thước (80×40×50) cm, trị giá 1.960.000 đồng.
- 01 máy hấp màu trắng hiệu Towel Wamer UV Sterilizer RTD – 23A, 220 V trị giá 1.020.000 đồng.
- 01 máy xông hơi mặt loại một cần hiệu Vapor δ Ozone mode MS 707 trị giá 1.620.000 đồng.
- 01 cây đèn chiếu sáng trắng vàng, dùng trong Spa hiệu Todom trị giá 550.000 đồng.
- 01 máy Lazer màu trắng hiệu FSG17 Premium OPT SHR δ ND YAG gắn 2 ống (Lazer OPT) trị giá 34.000.000 đồng.
- 01 máy 5 trong 1 màu xám xanh hiệu TM 268 – 5 In 1MULTIPLE Beauty Instrument trị giá 2.130.000 đồng.
- 01 máy đốt cao tầng bằng kim loại màu trắng hiệu Mediconics Equipment Burn Device LSBL trị giá 2.980.000 đồng.
- 01 quạt điện đường kính quạt 25cm bằng nhựa màu trắng không rõ nhãn hiệu trị giá 130.000 đồng.
- 08 gói săng mổ hiệu Bảo Thạch, size (50 × 50)cm, trị giá 560.000 đồng.
- 01 tủ lạnh nhãn hiệu Panasonic màu đen mode NR-BA 228 dung tích 188L, 90W trị giá 6.380.000 đồng.
- 01 (Một) cái khay, bằng kim loại, màu trắng, kích thước (21 x 13) cm, trị giá 50.000 đồng.
- 01 (Một) cái ly, bằng kim loại, màu trắng, kích thước (4,5 x 08) cm, trị giá 15.000 đồng.
- 01 (Một) hộp, bằng kim loại, màu trắng, kích thước (19 x 04 x 8,5) cm, trị giá 50.000 đồng.
- 01 (Một) cái tô, bằng kim loại, màu trắng, đường kính 20 cm, trị giá 50.000 đồng.
- 01 (Một) cái hủ, bằng kim loại, màu trắng, kích thước (06 x 08) cm, trị giá 20.000 đồng.
- 01 (Một) cái khay, bằng kim loại, màu trắng, kích thước (19,5 x 10,5) cm, trị giá 50.000 đồng.
- 01 bơm kim tiêm, kích cỡ 26G x ½”, nhãn hiệu VINAHANKOOK trị giá 1.000 đồng.
- 01 gói ni lông trong suốt, kích thước (18 x 12) cm, bên trong 02 viên thuốc con nhộng, màu xanh trắng, kích thước (02 x 0,7) cm và lá cây đã khô không có giá trị.
- 01 lọ thủy tinh có chữ AQUALYX, LOT 2019/001, 2022 - 06, chứa chất lỏng trong suốt, trị giá 60.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản là 71.666.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo H khai ngoài số tài sản đã trộm cắp được trên thì bị cáo còn trộm cắp nhiều tài sản khác của anh Trƣơng Phú N và chị Đặng Thị D , do bị cáo bán cho người khác nên bị cáo không nhớ được đặc điểm của các tài sản này, còn anh N và chị D khai còn bị mất trộm:
- 01 máy giảm béo RF màu trắng, không rõ nhãn hiệu
- 01 vòm ánh sáng sinh học giảm béo, màu trắng không rõ nhãn hiệu
- 01 máy đầm G5 giảm béo, màu trắng, không rõ nhãn hiệu
- 01 chăn điện giảm béo, không rõ hiệu
- 05 đai quấn nóng giảm béo, không rõ nhãn hiệu
- 01 máy cấy EZ cầm tay, nhãn hiệu EZ INJECTOR màu trắng
- 04 ghế nệm màu trắng chân bằng kim loại, kích thước ghế (40×20)cm
- 01 bếp điện từ màu đen, không rõ nhãn hiệu
- 01 quạt hơi nước dạng hộp đứng màu trắng, không rõ nhãn hiệu.
Ngày 20/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 1209, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, xác định trị giá các tài sản nêu trên. Hội đồng định giá kết luận không đủ cơ sở để định giá tài sản nêu trên, nên đã có công văn từ chối định giá tài sản.
Tại bản cáo trạng số: 195/CT-VKS-HS, ngày 13/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Phạm Thị H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và bị cáo Trần Thị Hồng M ; bị cáo Phạm Thị Thu U đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố là đúng, các bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, sau khi phân tích, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, vẫn giữ ngU n quyết định truy tố theo nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị H mức án từ 24- 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 đến 5 năm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thu U mức án từ 09 - 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị Hồng M mức án từ 09 - 12 tháng tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 24 tháng.
Xử lý vật chứng:
- Chấp nhận Cơ quan điều tra đã trao trả các tài gồm: 01 máy ly tâm hiệu 800 – 1 Centrifugal Machine, 01 máy hấp màu trắng hiệu Towel Wamer UV Sterilizer RTD – 23A, 01 xe đẩy bằng kim loại màu trắng loại 3 tầng, 05 chiếc giường bằng gỗ, 05 chiếc giường bằng kim loại, 10 nệm bọc da, 02 kệ bằng gỗ loại 03 tầng, 30 cái khăn, 01 máy xông hơi mặt loại 01 cần, 01 đèn chiếu sáng trắng vàng và 10 ga bọc nệm màu trắng cho anh Trƣơng Phú N là chủ sở hữu hợp pháp.
- Ngày 07/6/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử lý vật chứng số 173/QĐ-VKS-HS trao trả cho chị Đặng Thị D đối với các tài sản còn lại gồm: 01 hộp bằng nhựa chứa 120 viên nén hình búp; 01 hộp giấy hiệu DOCTER 100, bên trong chứa 81 mũi dao phẫu thuật; 01 máy TM268-5IN1 MULTIPLE BEAUTY INSTRUMENT; 01 máy đốt nốt ruồi hiệu MEDICONICS EQUIPMENT BURN DEVICE LSBL; 01 quạt điện bằng nhựa màu trắng, không rõ nhãn hiệu; 08 gói săng mổ, nhãn hiệu Bảo Thạch; 01 hộp bằng kim loại; 01 tô bằng kim loại; 01 hủ bằng kim loại; 01 cái ly bằng kim loại; 01 khay bằng kim loại; 01 khay bằng kim loại; 01 tủ lạnh nhãn hiệu Panasonic; 01 máy Laser FSG17 PREMIUM OPT SHR & ND YAG; 01 bơm kim tiêm; 01 gói ni lông trong suốt bên trong 02 viên thuốc con nhộng và lá cây đã khô; 01 lọ thủy tinh có chữ AQUALYX, LOT 2019/001, 2022- 06, chứa chất lỏng trong suốt.
Sau khi nhận lại tài sản thì anh N và chị D đã thỏa thuận bị cáo Hòa bồi thường số tiền 25.000.000 đồng là số tiền bồi thường mà bị cáo Hòa đã trộm cắp tài sản nhưng không nhớ rõ là tài sản gì và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Về phần dân sự của vụ án:
Chấp nhận việc bị cáo Hòa tự nguyện bồi thường cho chị D
số tiền 25.000.000 đồng là số tiền mà bị cáo Hòa đã bán tài sản trộm cắp nhưng không thu giữ được; bị cáo Trần Thị Hồng M đã trả lại cho chị Khổng Thị H số tiền 6.600.000 đồng, bị cáo H đã trả lại cho chị Hồ Thanh T số tiền 1.000.000 đồng là tiền mà chị H và chị T đã bỏ ra mua tài sản của các bị cáo do phạm tội mà có.
Chấp nhận việc chị Mai Thanh T không yêu cầu bị cáo H phải trả lại số tiền 1.000.000 đồng mà chị T đã bỏ ra mua tài sản của bị cáo Hoà.
Đối với một số thiết bị di động lưu trữ hình ảnh, video, file ghi âm do Phạm Thị H , Trần Thị Thu T , giao nộp tiếp tục lưu giữ để phục vụ công tác xét xử.
Các bị cáo không bào chữa và không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt;
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không xuất trình thêm chứng cứ tài liệu gì, các bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo, xét thấy:
Vào ngày 11/12/2020, tại tiệm Spa JIWON địa chỉ 56 Điện Biên Phủ phường Thống Nhất, thành phố Buôn Ma Thuột, các bị cáo Phạm Thị Hoà, Trần Thị Hồng M và Phạm Thị Thu U đã có hành vi lén lút chiếm đoạt nhiều tài sản của chị Đặng Thị D . Trong đó bị cáo Phạm Thị H đã chiếm đoạt tài sản trị giá 71.666.000 đồng; Bị cáo Trần Thị Hồng M chiếm đoạt trị giá tài sản 25.120.000 đồng và Phạm Thị Thu U chiếm đoạt trị giá tài sản là 6.380.000 đồng, thì bị phát hiện xử lý.
Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Thị H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, được quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Trần Thị Hồng M và Phạm Thị Thu U đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo nhận thức được rằng tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật quan tâm bảo vệ, mọi hành vi xâm hại trái pháp luật đều bị trừng trị một cách thích đáng, nhưng do ý thức coi thường pháp luật muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động nên các bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản nhiều tài sản của bị hại thì bị phát hiện. Do đó, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo thì mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Không
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại và được bị hại làm đơn bãi nãi xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Trần Thị Hồng M và bị cáo Phạm Thị Thu U được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội nhưng thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại các điểm h, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.
Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội về vai trò, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo khác nhau nên cần phân hóa để áp dụng mức hình phạt cho phù hợp.
Đối với bị cáo Phạm Thị H : Bị cáo là người chủ động rủ bị cáo M và U n thực hiện hành vi phạm tội, giá trị tài sản trộm cắp là 71.666.000 đồng nên hình phạt của bị cáo là cao nhất.
Đối với bị cáo Trần Thị Hồng M chiếm đoạt giá trị 25.120.000 đồng và bị cáo Phạm Thị Thu U chiếm đoạt giá trị 6.380.000 đồng có vai trò ngang nhau nhưng bị M chiếm đoạt số tiền lớn hơn bị cáo U n nên hình phạt của bị cáo M cao hơn bị cáo U n là phù hợp.
Xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự, đã khắc phục hậu quả cho người bị hại và bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo có nơi cư rõ ràng có nhiều tiết tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình các bị cáo, giáo dục cho các bị cáo sửa chữa sai lầm để trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Ngày 18/01/2021 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại các tài sản gồm: 01 máy ly tâm hiệu 800 – 1 Centrifugal Machine, 01 máy hấp màu trắng hiệu Towel Wamer UV Sterilizer RTD – 23A, 01 xe đẩy bằng kim loại màu trắng loại 3 tầng, 05 chiếc giường bằng gỗ, 05 chiếc giường bằng kim loại, 10 nệm bọc da, 02 kệ bằng gỗ loại 03 tầng, 30 cái khăn, 01 máy xông hơi mặt loại 01 cần, 01 đèn chiếu sáng trắng vàng và 10 ga bọc nệm màu trắng cho anh Trƣơng Phú N là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.
- Ngày 07/6/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho chị Đặng Thị D đối với các tài sản còn lại gồm: 01 hộp bằng nhựa chứa 120 viên nén hình búp; 01 hộp giấy hiệu DOCTER 100, bên trong chứa 81 mũi dao phẫu thuật; 01 máy TM268- 5IN1 MULTIPLE BEAUTY INSTRUMENT; 01 máy đốt nốt ruồi hiệu MEDICONICS EQUIPMENT BURN DEVICE LSBL; 01 quạt điện bằng nhựa màu trắng, không rõ nhãn hiệu; 08 gói săng mổ, nhãn hiệu Bảo Thạch; 01 hộp bằng kim loại; 01 tô bằng kim loại; 01 hủ bằng kim loại; 01 cái ly bằng kim loại; 01 khay bằng kim loại; 01 khay bằng kim loại; 01 tủ lạnh nhãn hiệu Panasonic; 01 máy Laser FSG17 PREMIUM OPT SHR & ND YAG; 01 bơm kim tiêm; 01 gói ni lông trong suốt bên trong 02 viên thuốc con nhộng và lá cây đã khô; 01 lọ thủy tinh có chữ AQUALYX, LOT 2019/001, 2022- 06, chứa chất lỏng trong suốt là phù hợp nên cần chấp nhận.
Sau khi nhận lại tài sản thì anh N và chị D đã thỏa thuận bị cáo Hòa bồi thường số tiền 25.000.000 đồng là số tiền bồi thường mà bị cáo Hòa đã trộm cắp nhưng không nhớ rõ là tài sản gì và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm là phù hợp nên cần chấp nhận.
Bị cáo Trần Thị Hồng M đã trả lại cho chị Khổng Thị H số tiền 6.600.000 đồng, bị cáo H đã trả lại cho chị Hồ Thanh T số tiền 1.000.000 đồng là tiền mà chị H và chị T đã bỏ ra mua tài sản của các bị cáo do phạm tội mà có; Chị Mai Thanh T không yêu cầu bị cáo H phải trả lại số tiền 1.000.000 đồng mà chị T đã bỏ ra mua tài sản của bị cáo H là phù hợp nên cần chấp nhận.
Quá trình điều tra, bị cáo H khai ngoài số tài sản đã trộm cắp được trên thì bị cáo còn trộm cắp nhiều tài sản khác của anh Trƣơng Phú N và chị Đặng Thị D , do bị cáo bán cho người khác nên bị cáo không nhớ được đặc điểm của các tài sản này, còn anh N và chị D khai còn bị mất trộm: 01 máy giảm béo RF màu trắng, không rõ nhãn hiệu; 01 vòm ánh sáng sinh học giảm béo, màu trắng không rõ nhãn hiệu; 01 máy đầm G5 giảm béo, màu trắng, không rõ nhãn hiệu; 01 chăn điện giảm béo, không rõ hiệu; 05 đai quấn nóng giảm béo, không rõ nhãn hiệu; 01 máy cấy EZ cầm tay, nhãn hiệu EZ INJECTOR màu trắng; 04 ghế nệm màu trắng chân bằng kim loại, kích thước ghế (40×20)cm; 01 bếp điện từ màu đen, không rõ nhãn hiệu; 01 quạt hơi nước dạng hộp đứng màu trắng, không rõ nhãn hiệu. Ngày 20/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 1209, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Buôn Ma Thuột, xác định trị giá các tài sản nêu trên. Hội đồng định giá kết luận không đủ cơ sở để định giá tài sản nêu trên, nên đã có công văn từ chối định giá tài sản nên tách ra khỏi vụ án để điều tra, xử lý sau phù hợp.
Đối với một số thiết bị di động lưu trữ hình ảnh, video, file ghi âm do Phạm Thị H , Trần Thị Thu T , giao nộp tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Về hành vi khác:
Đối với hành vi của Trần Thị Thu T đưa chìa khoá tiệm Spa cho bị cáo Phạm Thị Hoà, do T không biết mục đích của H là sử dụng chìa khoá để thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị T .
Đối với hành vi của anh Nguyễn Anh T , chị Khổng Thị H , Mai Thanh T , Hồ Thanh T mua tài sản của Hoà, do anh T , chị H , T và T không biết đây là các tài sản do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh T , chị H , T và T .
Đối với hành vi của anh Nguyễn Ngọc C , anh Nguyễn Văn B được anh Nguyễn Anh T , chị Khổng Thị H và chị Hồ Thanh T thuê chở các tài sản đã mua của bị cáo Hoà. Do anh C , anh B không biết tài sản trên do H phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh C và anh Bình là phù hợp.
Đối với chiếc chìa khoá của tiệm Spa và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu Vàng, gắn sim 0914XXXXXX được bị cáo H sử dụng làm phương tiện phạm tội, do bị cáo H đã làm mất không xác định được địa điểm nên Cơ quan điều tra không thu giữ được, nên không đề cập xử lý.
Đối với 02 người nam lái xe Taxi được bị cáo H và bị cáo M thuê chở số tài sản trộm cắp được về phòng trọ của các bị cáo, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch của những người này, nên Cơ quan điều tra tách ra khỏi vụ án tiếp tục xác minh xử lý sau.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 173 Bộ Luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Thị Hoà; Trần Thị Hồng M và Phạm Thị Thu U phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị H 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Thị Hồng M 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Thu U 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên n án sơ thẩm.
Trong thời gian thử thách giao bị cáo Phạm Thị H cho UNBD phường T , thành phố B ; Giao bị cáo Trần Thị Hồng M cho Ủy ban nhân dân xã Ea K , huyện C, tỉnh Đắk Lắk và giao bị cáo Phạm Thị Thu U cho Ủy ban nhân dân xã Ea Hu, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk là nơi các bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục.
Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Các biện pháp tƣ pháp: Áp dụng khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Chấp nhận Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng và đã trao trả các tài sản gồm: 01 máy ly tâm hiệu 800 - 1 Centrifugal Machine, 01 máy hấp màu trắng hiệu Towel Wamer UV Sterilizer RTD – 23A, 01 xe đẩy bằng kim loại màu trắng loại 3 tầng, 05 chiếc giường bằng gỗ, 05 chiếc giường bằng kim loại, 10 nệm bọc da, 02 kệ bằng gỗ loại 03 tầng, 30 cái khăn, 01 máy xông hơi mặt loại 01 cần, 01 đèn chiếu sáng trắng vàng và 10 ga bọc nệm màu trắng cho anh Trƣơng Phú N là chủ sở hữu hợp pháp.
- Chấp nhận ngày 07/6/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Đặng Thị D đối với các tài sản còn lại gồm: 01 hộp bằng nhựa chứa 120 viên nén hình búp; 01 hộp giấy hiệu DOCTER 100, bên trong chứa 81 mũi dao phẫu thuật; 01 máy TM268- 5IN1 MULTIPLE BEAUTY INSTRUMENT; 01 máy đốt nốt ruồi hiệu MEDICONICS EQUIPMENT BURN DEVICE LSBL; 01 quạt điện bằng nhựa màu trắng, không rõ nhãn hiệu; 08 gói săng mổ, nhãn hiệu Bảo Thạch; 01 hộp bằng kim loại; 01 tô bằng kim loại; 01 hủ bằng kim loại; 01 cái ly bằng kim loại; 01 khay bằng kim loại; 01 khay bằng kim loại; 01 tủ lạnh nhãn hiệu Panasonic; 01 máy Laser FSG17 PREMIUM OPT SHR & ND YAG; 01 bơm kim tiêm; 01 gói ni lông trong suốt bên trong 02 viên thuốc con nhộng và lá cây đã khô; 01 lọ thủy tinh có chữ AQUALYX, LOT 2019/001, 2022- 06, chứa chất lỏng trong suốt.
- Chấp nhận giữa anh Trƣơng Phú N và chị Đặng Thị D đã thỏa thuận bị cáo Phạm Thị H bồi thường số tiền 25.000.000 đồng là số tiền mà bị cáo Hòa đã trộm cắp tài sản và bán cho người khác nhưng chưa thu hồi được. Sau khi nhận tiền thì anh N và chị D không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm.
- Chấp nhận bị cáo Trần Thị Hồng M đã trả lại cho chị Khổng Thị H số tiền 6.600.000 đồng, bị cáo Phạm Thị H đã trả lại cho chị Hồ Thanh T số tiền 1.000.000 đồng (là tiền mà chị H và chị T đã bỏ ra mua tài sản của các bị cáo do phạm tội mà có).
- Chấp nhận chị Mai Thanh T không yêu cầu bị cáo Phạm Thị H phải trả lại số tiền 1.000.000 đồng mà chị T đã bỏ ra mua tài sản của bị cáo Hoà.
- Chấp nhận tách ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra xác minh đối với: 01 máy giảm béo RF màu trắng, không rõ nhãn hiệu; 01 vòm ánh sáng sinh học giảm béo, màu trắng không rõ nhãn hiệu; 01 máy đầm G5 giảm béo, màu trắng, không rõ nhãn hiệu; 01 chăn điện giảm béo, không rõ hiệu; 05 đai quấn nóng giảm béo, không rõ nhãn hiệu; 01 máy cấy EZ cầm tay, nhãn hiệu EZ INJECTOR màu trắng; 04 ghế nệm màu trắng chân bằng kim loại, kích thước ghế (40×20)cm; 01 bếp điện từ màu đen, không rõ nhãn hiệu; 01 quạt hơi nước dạng hộp đứng màu trắng, không rõ nhãn hiệu mà anh N và chị D khai còn bị mất trộm nhưng chưa thu hồi được và 02 người nam lái xe Taxi được bị cáo H và bị cáo M thuê chở số tài sản trộm cắp được về phòng trọ của các bị cáo do chưa xác định được nhân thân, lai lịch.
- Tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án thiết bị di động lưu trữ hình ảnh, video, file ghi âm do bị cáo Phạm Thị H và chị Trần Thị Thu T , giao nộp.
3. Về đối tƣợng khác:
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột không đề cập xử lý hành vi của Trần Thị Thu T đưa chìa khoá tiệm Spa cho bị cáo Phạm Thị Hoà, do T không biết mục đích của H là sử dụng chìa khoá để thực hiện hành vi phạm tội; Anh Nguyễn Anh T , chị Khổng Thị H , Mai Thanh T , Hồ Thanh T mua tài sản của bị cáo Hoà, do anh T , chị H , T và T không biết đây là các tài sản do H phạm tội mà có và anh Nguyễn Ngọc Cảnh, anh Nguyễn Văn Bình, được anh Nguyễn Anh T , chị Khổng Thị H và chị Hồ Thanh T thuê chở các tài sản đã mua của bị cáo Hoà, do anh C , anh Bình không biết tài sản trên do H phạm tội mà có.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Phạm Thị Hoà; Trần Thị Hồng M và Phạm Thị Thu U mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tU n án.
Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Đắk Lắk; - Vụ Giám đốc kiểm tra I-TAND tối cao; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; VKSND TP. BMT; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Công an TP. Buôn Ma Thuột; - CCTHADS TP. Buôn Ma Thuột; - THA phạt tù TP. Buôn Ma Thuột; - Bị cáo, các đương sự; Lưu HS+ VP | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Lê Thị Mai |