- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Nhật Q- Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cao Nhật Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 195/2023/HS-ST Ngày: 23 - 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy.
Ông Nguyễn Công Danh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thiên Lộc – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 189/2023/HSST ngày 18 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Cao Nhật Q, sinh năm: 1997, tại Thành Phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 462/84 Nguyễn Tri P, phường I, Quận A, Thành Phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; cha: Không rõ; mẹ là Cao Thị Thiên P1; bị cáo là con thứ hai trong gia đình có hai anh em; vợ, con: Không; tiền án: Có 01 tiền án: Bản án số 33/2020/HSST ngày 07/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền xử phạt Cao Nhật Q 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2023; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 07/6/2023, chuyển tạm giam ngày 16/6/2023. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Nhật Q là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (loại Methamphetamine). Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 16 giờ ngày 05/6/2023, Q điều khiển xe mô tô chở Diệp Thanh K đi đến khu vực đường hẻm tại khu phố H, thị trấn L, huyện L mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đi, Q không nói cho K biết việc đi mua ma túy mà chỉ nói K đứng bên ngoài khu vực đầu hẻm chờ, còn Q đi vào trong hẻm gặp một người đàn ông tên T (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma túy đá với số tiền 500.000đồng. Sau khi mua được ma túy Q cầm trên tay phải rồi nói K chở Q về nhà tại khu phố H, thị trấn L, huyện L. Khi về đến nhà, Q đi vào trong phòng ngủ lấy gói ma túy mua được chia làm 01 gói (01 gói lớn, 01 gói nhỏ), Q lấy gói ma túy nhỏ bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi rủ K cùng sử dụng ma túy tại phòng ngủ của Q. Gói ma túy còn lại, Q cất giấu vào bên trong lỗ gạch ống của bờ tường nhà Q, còn K sau khi sử dụng ma túy với Q xong thì ra về. Đến khoảng 22 giờ ngày 06/6/2023, K và Hồ Văn T1 đến nhà Q chơi. Lúc này, Q lấy gói ma túy cất giấu trước đó vào phòng ngủ và lấy một ít ma túy bỏ vào bộ dụng cụ rồi rủ K và T1 cùng sử dụng ma túy. Số ma túy còn lại, Q bỏ vào trong 01 cái hộp không đậy nắp để trên nệm gần chỗ Q ngồi. Sauk hi sử dụng ma túy xong, K và T1 ở lại nhà Q. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 07/6/2023, Nguyễn Văn R đến nhà Q thì thấy T1, K cũng đang ở đây. Lúc này, Q tiếp tục rủ T1, K và R vào phòng ngủ của Q cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Do ma túy trong bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã hết nên K hỏi Q còn ma túy không, Q chỉ gói ma túy trong cái hộp nói K lấy bỏ vào sử dụng. Một lúc sau, Dương Thị T2 (bạn gái cùng sống chung với Q) ngủ dậy thì thấy Q, K, T1, R đang sử dụng ma túy nên cũng vào sử dụng cùng. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thị trấn L, huyện L đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Q, K, T1, R và T2 đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ của Q nên tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Q, đồng thời thu giữ 01 gói ma túy còn lại chưa sử dụng hết và 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Cơ quan Công an, Cao Nhật Q khai nhận gói ma túy cơ quan Công an thu giữ là của Q. Mục đích Q tàng trữ gói ma túy trên là để sử dụng, đồng thời cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy, địa điểm là phòng ngủ trong nhà của Q để tổ chức cho Diệp Thanh K, Hồ Văn T1, Nguyễn Văn R và Dương Thị T2 sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với K, T1, R và T2 không hùn tiền mua ma túy và cũng không phải trả tiền sử dụng ma túy lại cho Q.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói nylon được hàn kín, bên trong chứa các hạt tinh thể không màu trong suốt, được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng, sau khi giám định Phòng K2 Công an tỉnh B đã niêm lại vụ số 241 ngày 15/6/203 và 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy. Hiện đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý, chờ xử lý
- Số tiền 4.140.000đồng thu giữ của Q, qua xác minh đây là tiền của bà Cao Thị Thiên P1 (mẹ của Q) đưa cho Q cất giữ giùm, không liên quan đến vụ án. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho bà P1.
Tại Bản kết luận giám định số 241/KL-KTHS-MT ngày 15/6/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Một phong bì màu trắng có hình dấu của Công an thị trấn L, CAH huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cùng các chữ ký ghi họ tên: Trung tá Phạm Thanh S, Dương Văn T3, Trần Đức H, Tô Khánh S1, Diệp Thanh K, “Hồ Văn T1”, Dương Thị T2, Nguyễn Văn R, Cao Nhật Q, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu- trong suốt (ký hiệu mẫu A), gửi đến giám định có khối lượng 0,7185gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 186/CT-VKSLĐ ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Cao Nhật Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Cao Nhật Q thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thấy mình không bị oan, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về chăm sóc cho mẹ bị cáo đang bị bệnh.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Cao Nhật Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 16 tháng tù đến 24 tháng tù; Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Cao Nhật Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” mức hình phạt từ 09 năm tù đến 09 năm 06 tháng tù. Đồng thời đề nghị áp dụng Điều 55 để tổng hợp hình phạt của hai tội là từ 10 năm 04 tháng tù đến 11 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon được hàn kín, bên trong chứa các hạt tinh thể không màu trong suốt, được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng, sau khi giám định Phòng K2 Công an tỉnh B đã niêm lại vụ số 241 ngày 15/6/203 và 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Cao Nhật Q đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Do đó, có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 07/6/2023 Cao Nhật Q đã bị bắt qua tang vì có hành vi tổ chức cho Diệp Quang K1, Hồ Văn T1, Nguyễn Văn R và Dương Thị T2 sử dụng trái phép chất ma túy trong 03 ngày từ ngày 05/6 đến ngày 07/6/2023 tại nhà của Q thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Q cung cấp ma túy, bộ D để sử dụng ma túy đã 03 lần tổ chức cho K1, T1, R và T2 sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Lần thứ nhất: Vào ngày 05/6/2023, Q tổ chức cho K1 sử dụng trái phép chất ma túy; Lần thứ hai vào khoảng 22 giờ ngày 06/6/2023, Q tổ chức cho K1, T1 sử dụng trái phép chất ma túy; Lần thứ ba vào khoảng 08 giờ 30 ngày 07/6/2023, Q tổ chức cho K1, T1, R, T2 sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị bắt quả tang. Đồng thời thu giữ 01 gói ma túy có khối lượng 0,7185 gam, là ma tuý, loại Methamphetamine của Q cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền đã truy tố bị cáo Cao Nhật Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền về quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều căn bệnh cũng như tội phạm của xã hội. Bị cáo đang có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi bị cáo chấp hành án xong không những không thay đổi bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, mà còn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Đồng thời tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đang có tiền án về tội “Táng trữ trái phép chất ma tuý”, chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội, do đó bị áp dụng tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa bà Cao Thị Thiên P1 là mẹ của bị cáo cung cấp giấy tờ mẹ của bà P1 (bà ngoại của bị cáo Q) là người có công với cách mạng, được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, đồng thời bà P1 cũng cung cấp giấy tờ liên quan đến việc đang điều trị bệnh u xơ. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về xử lý vật chứng: 01 gói nylon được hàn kín, bên trong chứa các hạt tinh thể không màu trong suốt, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, sau khi giám định Phòng K2 Công an tỉnh B đã niêm phong lại vụ số 241 ngày 15/6/2023 và 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý.
Đối với đối tượng tên T đã bán ma túy cho Q (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện L tiếp tục xác minh, xử lý sau, HĐXX không xét đến trong vụ án này.
Đối với Diệp Thanh K đi cùng Q khi Q đi mua ma tuý. Quá trình điều tra, xác định K không biết việc Q đi mua ma túy và cũng không liên quan đến hành vi tàng trữ ma túy của Q, Cơ quan CSĐT Công an huyện L không xử lý hình sự đối với hành vi nêu trên là có căn cứ.
Đối với Diệp Thanh K, Hồ Văn T1, Nguyễn Văn R và Dương Thị T2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã chuyển hồ sơ sang xử lý hành chính, nên HĐXX không xét đến.
Án phí: Bị cáo Cao Nhật Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Cao Nhật Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), xử phạt:
Cao Nhật Q 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (năm) 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Cao Nhật Q phải chấp hành là 09 (chín) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 07/6/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gói nylon được hàn kín, bên trong chứa các hạt tinh thể không màu trong suốt, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, sau khi giám định Phòng K2 Công an tỉnh B đã niêm phong lại vụ số 241 ngày 15/6/2023 và 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý.
(Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng số 11/BB-CCTHADS ngày 18/10/2023).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Cao Nhật Q phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/11/2023) bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND H.Long Điền; - VKSND tỉnh BR-VT; - Công an H.Long Điền; - THA hình sự, dân sự; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - PC10; PV06 CA tỉnh BR-VT; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; AV. HỘI ĐỒN XỬHỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI ĐỒN XỬHỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Ngọc Dung |