- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Đình Đ phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quam, tổ chức” - phạm tội làm giả con d…"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 295 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– Bản án số: 195/2023/HS-PT Ngày: 07/3/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trần Đức Hiếu Thẩm phán:
Ông Hoàng Văn Thành Thẩm phán:
Ông Nguyễn Thanh Nhã
- Thư ký phiên tòa:
Ông Lý Minh Chính – Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 07/3/2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 953/2022/TLPT-HS ngày 25 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử phúc thẩm số 58/2023/QĐXXPT-HS ngày 09/02/2023 đối với bị cáo Nguyễn Đình Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 162/2022/HSST ngày 07/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1975; Nơi thường trú: X khu Đô thị ĐX, xã ĐX, huyện GL, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố là Nguyễn Đình B; Mẹ là Nguyễn Thị T; Vợ là Trịnh Thị Hồng H; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
- Người bị hại: Anh Phạm Văn D, sinh năm 1986 (đã chết); Đại diện hợp pháp cho người bị hại không kháng cáo: Chị Đặng Thị Lưu H, sinh năm 1984; Hộ khẩu thường trú: Thôn PX2, xã TH, huyện KT, Hải Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đình Đ là nhân viên hợp đồng của Công ty TNHH Vận tải và Dịch vụ thương mại AP. Đ được Công ty AP giao vận hành, điều khiển cần trục bánh lốp nhãn hiệu Samsung SC50H mang BKS: 29LA-3535 để vận chuyển hàng hóa lên các phương tiện tại khu vực bãi xe của Công ty AP (Khu vực phía sau cụm công nghiệp NH), thuộc địa phận xã NH, huyện TT, Hà Nội. Công ty AP phân công anh Nguyễn Văn L (Sinh năm: 1994; Hộ khẩu thường trú: thôn NT, xã TĐ, huyện HH, tỉnh Thái Bình) và anh Lê Hữu Đ (Sinh năm: 1969; Hộ khẩu thường trú: thôn TH2, xã VQ, huyện CH, tỉnh Tuyên Quang) làm phụ móc cẩu, để hỗ trợ móc tải, xi nhan cho Đ vận chuyển hàng hóa lên phương tiện vận chuyển.
Khoảng 14 giờ ngày 04/9/2019, Nguyễn Đình Đ vận hành, điều khiển cần trục bánh lốp BKS: 29LA-3535 để thực hiện công việc cẩu cấu kiện (Các chi tiết cẩu tháp) lên các xe ô tô đầu kéo, kéo theo sơ-mi-rơ-mooc chở hàng, tại bãi xe của Công ty AP, thuộc địa phận xã NH, huyện TT, Hà Nội. Anh L và anh Đào phụ móc cẩu cho Đ. Đến 15 giờ cùng ngày, anh L và anh Đào đi tìm dụng cụ cắt dây thép đang buộc các chi tiết cẩu tháp, ở dưới bãi xe nên Đ dừng điều khiển cần trục. Lúc này, anh Phạm Văn D là lái xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-14677, kéo theo sơ-mi-rơ-mooc BKS: 15R-13484 đang dừng xe trong bãi xe của Công ty AP để lấy hàng. Anh D đi đến nói với Đ đề nghị hỗ trợ móc hàng lên cẩu, Đ đồng ý. Anh D thực hiện việc móc hàng lên cẩu, ra tín hiệu vẫy tay và hô "lên đi" để Đ vận hành, điều khiển cần trục đưa cấu kiện lên. Lúc này, Đ bị khuất tầm nhìn và chỉ thấy anh D giơ hai tay vẫy. Đ vận hành cần trục đưa cấu kiện lên được khoảng 50 cm thì cấu kiện bị xô lệch va chạm vào người anh D, làm anh D ngã xuống đất. Thấy anh D bị ngã xuống đất, anh Trịnh Văn H (sinh năm: 1971; Hộ khẩu thường trú: thôn HH, xã CL, huyện TK, Hải Dương) đã hô hoán yêu cầu Đ dừng cẩu và cùng mọi người đưa anh D đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa Nông Nghiệp. Tuy nhiên, do thương tích nặng nên anh D đã tử vong.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Trì đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trưng cầu giám định về nguyên nhân tử vong của anh Phạm Văn D, rà soát và thu giữ 01 USB có chứa dữ liệu video ghi nhận diễn biến vụ việc và trưng cầu giám định.
Tại bản kết luận giám định số 72/19/GĐPY ngày 30/9/2019 kết luận: "Nguyên nhân tử vong của nạn nhân Phạm Văn D 33 tuổi là do chấn thương sọ não nặng."
Tại bản kết luận pháp y về hóa pháp của Viện pháp y Quân đội - Cục Quân y kết luận: "Mẫu máu của Phạm Văn D gửi giám định không có Ethanol. Mẫu máu của Phạm Văn D gửi giám định không phát hiện thấy các chất ma túy kể trên (Morphin, Heroin, Codein, Cocain, Diazepan, Pethidin, Amphetamin, Methamphetamin, MDA, MDMA, cần sa)."
Tại bản kết luận số 8052/C09-P6 ngày 08/12/2021 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: "Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tệp video gửi giám định."
Tại biên bản điều tra tai nạn lao động số 195/BBĐTTTNLĐ ngày 29/4/2021 của Đoàn điều tra tai nạn lao động thành phố Hà Nội xác định:
"- Nguyên nhân gây tai nạn: Cấu kiện chi tiết cẩu tháp được buộc móc lên cẩu để cẩu lên thùng xe ô tô chưa được chằng buộc chắc chắn dẫn đến khi cấu kiện này cẩu lên đã bị xô mất cân bằng va vào người dẫn đến tai nạn (phù hợp lời khai của người làm chứng là anh Trịnh Văn H trực tiếp chứng kiến toàn bộ sự việc).
- Kết luận về vụ tai nạn: Nạn nhân Phạm Văn D thời điểm bị tai nạn là người đang làm việc không trên cơ sở thuê mướn bằng hợp đồng lao động bị tai nạn khi đang làm công việc hỗ trợ cẩu kiện. Vì vậy, đây là vụ tai nạn lao động đối với người làm việc không có quan hệ hợp đồng lao động.
- Những người có lỗi: (1) ông Phạm Văn D - nạn nhân có lỗi bất cẩn khi treo và đứng ở vị trí nguy hiểm trong khu vực cẩu hàng dẫn đến khi cấu kiện hàng được cẩu lên đã bị xô va vào người dẫn đến tai nạn. (2) Công ty TNHH Vận tải và dịch vụ Thương mại AP có lỗi gián tiếp khi không xây dựng, ban hành tổ chức thực hiện các nội quy, quy trình bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động đối với công việc bốc xếp hàng hóa để hướng dẫn, giám sát thực hiện đối với người lao động và những người liên quan.
- Hình thức xử lý: Đoàn điều tra tai nạn lao động đề nghị Giám đốc Công ty TNHH Vận tải dịch vụ thương mại AP tổ chức kiểm điểm trách nhiệm những người có lỗi được nêu tại điểm 9.1 mục 9 và những người có trách nhiệm liên quan theo quy định của Bộ luật lao động, phân cấp trách nhiệm và nội quy lao động của Công ty"
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đình Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của Đ phù hợp với các tài liệu chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được, ngoài ra, Đ còn khai nhận:
Khoảng cuối năm 2018 đến đầu năm 2019, do có nhu cầu cần xin việc làm nên Nguyễn Đình Đ đã lên mạng internet để tìm và thuê người làm văn bằng, chứng chỉ nghề đào tạo vận hành cần trục. Quá trình tìm kiếm trên internet, Đ tìm và liên lạc được với một đối tượng (Không rõ họ tên, địa chỉ) nhận làm giả các loại văn bằng, chứng chỉ. Đối tượng này đồng ý làm giả văn bằng, chứng chỉ nghề đào tạo vận hành cần trục cho Đ với giá 2.500.000 đồng. Đ đã nhắn tin thông tin cá nhân họ tên, ngày tháng năm sinh, nơi sinh và gửi ảnh cá nhân của Đ, qua mạng internet cho đối tượng này để làm giả văn bằng, chứng chỉ nghề đào tạo cần trục cho Đ. Khoảng 20 ngày sau, Đ nhận được 01 Bằng tốt nghiệp trung cấp nghề giả (số hiệu Bằng CCN20/09 với nội dung Hiệu trưởng Trường trung cấp tổng hợp Hà Nội - ông Lê Nghị cấp bằng ngày 20/9/2010 cho học viên Nguyễn Đình Đ, ngày sinh 08/9/1975, nghề đào tạo Vận hành cần trục, khóa học từ tháng 9/2009 đến tháng 9/2010) do đối tượng làm giả văn bằng, chứng chỉ gửi qua đường bưu điện đến cho Đ. Đ đã trả cho đối tượng làm giả văn bằng, chứng chỉ số tiền 2.500.000 đồng theo thỏa thuận trước đó.
Đến tháng 02/2019, Đ xin làm việc vận hành cần trục tại Công ty TNHH Vận tải và dịch vụ thương mại AP, địa chỉ tại: KmX, Quốc lộ 1A, xã LN, huyện TT, Hà Nội do ông Nguyễn Văn K làm giám đốc. Công ty AP yêu cầu phải có văn bằng, chứng chỉ nghề đào tạo nên Đ đã sử dụng bằng tốt nghiệp trung cấp nghề giả trên, kèm theo hồ sơ xin việc nộp cho Công ty AP. Do không biết bằng tốt nghiệp trung cấp nghề đào tạo vận hành cần trục của Đ là giả nên ngày 18/02/2019, Công ty AP đã ký hợp đồng lao động với Đ, với công việc lái xe vận hành cần trục. Ngày 05/9/2019, Nguyễn Đình Đ tự nguyện giao nộp cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Trì 01 Bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, số hiệu Bằng CCN20/09.
Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Trì đã làm việc và được Trường trung cấp Tổng hợp Hà Nội cho biết: Trường trung cấp tổng hợp Hà Nội không có học viên nào có họ tên Nguyễn Đình Đ, Sinh ngày: 08/9/1975, Quê quán: MH, LT, Bắc Ninh. Cơ quan CSĐT - Công an huyện Thanh Trì đã thu mẫu dấu của Trường trung cấp tổng hợp Hà Nội, mẫu chữ ký của ông Lê Nghị - Hiệu trưởng trường trung tổng hợp Hà Nội và trưng cầu giám định đối với bằng tốt nghiệp trung cấp nghề số hiệu CCN20/09 do Đ giao nộp.
Tại bản kết luận giám định số 8622/KLGĐ-PC09-DD3 ngày 06/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: "Bằng tốt nghiệp trung cấp nghề" số hiệu: CCN20/09, cấp cho Nguyễn Đình Đ, ngày sinh: 08/9/1975, cấp ngày 20/9/2010 là "Bằng tốt nghiệp trung cấp nghề" giả.
Đối với Công ty AP không biết Đ sử dụng Bằng giả nên đã ký hợp đồng lao động và phân công Đ điều khiển Cẩu trục. Anh D không phải là nhân viên của Công ty AP và không được Công ty AP phân công móc hàng hóa vào Cẩu và xi nhan nâng Cẩu, do vậy Cơ quan Điều tra huyện Thanh Trì không xử lý. Về dân sự: Công ty TNHH Vận tải và dịch vụ Thương mại AP đã phối hợp cùng bị cáo đã bồi thường, hỗ trợ cho gia Đình anh Phạm Văn D số tiền 130.000.000 đồng. Vợ anh D là chị Đặng Thị Lưu Huỳnh đại diện gia Đình đã nhận tiền bồi thường, không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã gây tai nạn cho anh D.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 162/2022/HSST ngày 07/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã áp dụng khoản 1 Điều 295; khoản 1 Điều 341; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Đ 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” và 06 (Sáu) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 21/10/2022, bị cáo Nguyễn Đình Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo có đơn kháng cáo là hợp lệ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các Điều 331; 334 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo về hình thức. Về nội dung: Bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo khoản 1 Điều 295 và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật. Về việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo “Lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa đúng quy định. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu mới về việc bố, mẹ bị cáo tham gia quân đội và được tặng thưởng huy chương chiến sĩ, đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định xử phạt bị cáo 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” và 06 (Sáu) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo.
- Bị cáo trình bày: Công nhận bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội. Bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xuất trình thêm tài liệu mới về việc bố mẹ bị cáo được tặng thưởng huy chương chiến sĩ để xin được giảm một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các Cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo Nguyễn Đình Đ có kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận về hình thức.
[2] Về tội danh và hình phạt:
- Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo công nhận bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” là đúng người, đúng tội. Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Để xin việc vào Công ty TNHH Vận tải và dịch vụ thương mại AP, khoảng cuối năm 2018 đến đầu năm 2019, Nguyễn Đình Đ đã cung cấp thông tin cá nhân, ảnh chụp cá nhân và thuê 01 đối tượng không quen biết, giao dịch thông qua mạng xã hội để làm giả 01 Bằng tốt nghiệp trung cấp nghề số hiệu: CCN20/09 của trường Trung cấp tổng hợp Hà Nội với giá tiền 2.500.000 đồng. Hồi 15 giờ ngày 04/9/2019, tại bãi xe của vào Công ty TNHH Vận tải và dịch vụ thương mại AP ở xã NH, huyện TT, Hà Nội, Nguyễn Đình Đ vận hành, điều khiển cần trục bánh lốp BKS: 29LA-3535 để cẩu các chi tiết Cẩu tháp lên các xe ô tô đầu kéo, kéo theo sơ mi rơ mooc đã vi phạm quy định tại tiểu mục 3.6.1.5; tiểu mục 3.6.3; tiểu mục 3.6.4 của Thông tư 05/2012/TT-BLĐTBXH ngày 30/3/2012 khi đồng ý để anh Phạm Văn D không phải là nhân viên Công ty AP, không phải là người có chức năng và không được đào tạo về chuyên môn và được huấn luyện cấp thẻ an toàn theo đúng quy định tham gia móc cấu kiện thép vào cẩu và xi nhan nâng tải. Quá trình nâng tải, Đ đã không chú ý quan sát để xác định vị trí anh D đứng có đảm bảo an toàn không dẫn đến khi nâng tải, cấu kiện đã bị xô lệch va chạm vào người anh D khiến anh D ngã, tử vong.
Bản án hình sự sơ thẩm số 162/2022/HSST ngày 07/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Đ phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo khoản 1 Điều 295 và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Hội đồng xét xử nhận định, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đối với tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”, bị cáo đã phối hợp cùng Công ty TNHH AP bồi thường thiệt hại cho gia Đình người bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự, lỗi một phần do người bị hại và đại diện của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự vì trong cùng 01 lần xét xử bị cáo phạm 02 tội danh. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu mới về việc bố, mẹ bị cáo tham gia quân đội và được tặng thưởng huy chương chiến sĩ, Hội đồng xét xử nhận định đây là tình tiết mới và là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có hơn 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên có đủ căn cứ để áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, chấp nhận kháng cáo để giảm hình phạt cho bị cáo, quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của Điều 295 Bộ luật hình sự về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Về hiệu L thi hành bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu L pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 162/2022/HS-ST ngày 07/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo, cụ thể:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Đ phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quam, tổ chức”
Áp dụng khoản 1 Điều 295; khoản 1 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 55; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Đ 06 (Sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” và 06 (Sáu) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Đình Đ không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Về hiệu L bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu L pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu L pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Hà Nội; - VKSND thành phố Hà Nội; - CQ THAHS TP Hà Nội; - CQCSĐT huyện Thanh Trì; - VKSND huyện Thanh Trì; - TAND huyện Thanh Trì; - CQTHADS huyện Thanh Trì; - Bị cáo; - Đại diện Bị hại; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đức Hiếu |