vanban.org

Bản án 195/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 31/05/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/05/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 195/2023/HS-PT
Ngày: 31/05/2023
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"tòa:"Bà Phan Thị Thu Hương

Các"Thẩm"phán:

Bà Nguyễn Thị Lê Trang

Ông Nguyễn Trung Hưng

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hà – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn H

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 562/2022/HSST ngày 20/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Bị"cáo"kháng"cáo:""

- Nguyễn H (Hải Nhất), sinh năm 1991 tại tỉnh Đồng Nai. Nơi đăng ký thường trú và cư trú tại: 47E/36, khu phố 8, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn V(Còn sống) và bà Trần K(Còn sống); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Hoàng Gia Hân, có 01 con sinh năm 2021, bị cáo tại ngoại (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị hại: Chị Hoàng L, sinh năm 1982. Trú tại: 60A/4, khu phố 3, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo"các"tài"liệu"có"trong"hồ"sơ"vụ"án"và"diễn"biến"tại"phiên"tòa,"nội"dung"vụ" án"được"tóm"tắt"như"sau:"Khoảng 12 giờ ngày 13/4/2021, chị Hoàng L, sinh năm 1982, trú tại 60A/4, khu phố 3, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đỗ xe ô tô con nhãn hiệu Hyundai Accent, biển số 60A-565.46 của chị L sát lề đường phía trước cổng Công ty Đồng Hiệp 2, thuộc khu phố 4, phường T, thành phố B rồi đi vào xưởng gỗ của gia đình chị L (đối diện công ty Đồng Hiệp 2) để giải quyết công việc. "

Khoảng 12 giờ 05 phút cùng ngày, Nguyễn H điều khiển xe mô tô biển số 59S3-166.15 trên đường đi uống rượu về, khi đi đến đoạn đường gần Công ty Đồng Hiệp 2, thuộc khu phố 4, phường T, thành phố B thì xảy ra va chạm giao thông với một nam thanh niên không rõ lai lịch dẫn đến cãi nhau. H dừng xe nhặt một cục đá xanh khoảng 0,5 kg ven đường để đánh nhau thì người thanh niên này đã điều khiển xe bỏ đi. H cầm theo cục đá và điều khiển xe đi tìm người thanh niên nhưng không gặp. Khi đi đến cổng Công ty Đồng Hiệp 2, H nhìn thấy xe ô tô biển số 60A-565.46 dừng bên lề đường. Do đang bực tức người thanh niên va chạm với mình, H đã áp sát và dùng cục đá cầm theo ném vào kính chắn gió trước của xe ô tô trên gây vỡ kính, rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi.

Chị L sau khi phát hiện sự việc đã trích xuất camera an ninh khu vực trước cổng Công ty Đồng Hiệp 2 để xem thì nhận ra nam thanh niên có hành vi ném kính xe ở trên là Nguyễn H mà chị L đã biết trước đó. Sau đó, chị L đến Công an phường T, thành phố B trình báo sự việc. Công an phường Tân Hòa lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa để xử lý theo thẩm quyền. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.

Vật chứng vụ án gồm:

01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha 125ZR màu Đen–Đỏ, biển số 59S3– 166.15, số khung 0600H0301017, số máy E101EK301017, là phương tiện Nguyễn H sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã xác minh nguồn gốc xe nhưng chưa làm rõ được, nên tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định (Bút lục 100).

Đối với cục đá xanh H sử dụng để ném vỡ kính xe của chị L, Cơ quan điều tra không truy tìm được.

Kết luận định giá tài sản số 261/KL-HĐĐGTS, ngày 04/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa kết luận: 01 (Một) tấm kính chắn gió trước ô tô biển số 60A-565.46, có giá trị 5.400.000 đồng (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng) (Bút lục 54).

Về dân sự: Bị cáo Nguyễn H đã bồi thường cho chị Hoàng L số tiền 11.200.000 đồng (Mười một triệu hai trăm nghìn đồng). Chị L không yêu cầu bồi thường gì thêm (Bút lục 89).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 562/2022/HSST ngày 20/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã xử phạt: Bị cáo Nguyễn H 06 (sáu) tháng tù giam.Thời hạn tù tính từ ngày bắt vào trại thi hành án phạt tù, nhưng được trừ đi thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2022 đến ngày 02/6/2022

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 20 tháng 12 năm 2022 bị cáo Nguyễn H có đơn kháng cáo xin hưởng án treo. Tại phiên tòa bị cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo xin hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án:

Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng tội danh, khung hình phạt và đã xem xét đầy đủ tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn H. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.Riêng đối với, những tình tiết hoàn cảnh khó khăn, bc là lao động chính trong gia đình mà bị cáo cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, HĐXX xem xét cho bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn H:

Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, tổ chức được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội danh trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trong vụ án này, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, nhất thời phạm tội, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp Đơn trình bày hoàn cảnh đề ngày 17/5/2023 về việc gia đình bị cáo thuộc hộ khó khăn tại địa phương, bị cáo là lao động chính trong gia đình và hiện tại đang phải nuôi con nhỏ. Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; trình độ học vấn thấp (02/12) nên am hiểu pháp luật hạn chế; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có thể tự cải tạo sửa chữa việc sai trái đã làm mà không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội một thời gian. Cho nên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo chuyển hình phạt tù sang phạt cải tạo không giam giữ nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với người đã biết ăn năn hối cải.

Do đó cần giao bị cáo H cho chính quyền địa phương nơi bị cáo H cư trú giám sát, giáo dục để bị cáo tự cải tạo sửa chữa, cũng đủ răn đe bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung.

Bị cáo H hiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có thu nhập ổn định, phải nuôi con nhỏ nên miễn khấu trừ thu nhập trong thời gian thi hành án; không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo H.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với một phần quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận đối với phần phù hợp.

[5] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT ĐỊNH:"

[1] Căn cứ điểm b Khoản 1, Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn H, sửa bản án sơ thẩm số 562/2022/HSST ngày 20/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa về hình phạt đối với bị cáo.

[2] Áp dụng khoản 1 Điều 178; Các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điểm d khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn H 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Giao bị cáo Nguyễn H cho UBND phường Hố Nai, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn H.

[3] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ