vanban.org

Bản án 195/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 01/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 195/2022/HS-ST.
Ngày: 01/7/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VI NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Loan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Lệ Nga.

2. Bà Nguyễn Thị Thùy Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tú– Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Rạch Giá, tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Đạm – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2022/HS-ST ngày 10 tháng 6 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2022/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu T – sinh năm: 1987; Tên gọi khác: T Hai Cao; Quê quán: Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT: Số 106/72 Nguyễn Thái H, phường Vĩnh B, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Không có chỗ ở nhất định; Quốc tịch: Vi Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Cha: Nguyễn Hữu Ân, sinh năm 1967; Mẹ: Lê Thị Kim Dung, sinh năm 1970; Vợ: Mai Thị Diệu, sinh năm 1991 (đã ly hôn); Con: Nguyễn Mai Như Ý, sinh năm 2009.;

* Tiền án:

- Ngày 28/10/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Ngày 25/01/2018 chấp hành xong hình phạt. Chưa được xóa án tích do chưa thi hành số tiền bồi thường thiệt hại 2.400.000 đồng.

- Ngày 12/12/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại Bản án số 93/2014/HSST, tổng hợp hình phạt 02 năm tù của Bản án số 247/2014/HSST của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, buộc bị cáo T phải chấp hành 03 năm 06 tháng tù. Ngày 25/01/2018 chấp hành xong hình phạt. Chưa được xóa án tích do chưa thi hành số tiền bồi thường thiệt hại 595.000 đồng.

* Tiền sự:

- Ngày 16/01/2021, bị Công an phường Vĩnh Bảo xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 0003/QĐ-XPHS. Chưa hết thời gian để được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

- Ngày 16/6/2021, bị Công an phường Vĩnh Bảo xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại Quyết định số 0086/QĐ-XPHS. Chưa hết thời gian để được xem là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

* Nhân thân:

Ngày 13/4/2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 31/01/2007 chấp hành xong hình phạt. Không tính án tích đối với bị cáo do khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi.

Bị cáo bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 15/12/2021. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Rạch Giá.

Bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Ông Nguyễn Hồng V, sinh năm: 1971. (Vắng mặt)

Địa chỉ: số 214 Trần Quang Khải, phường An Hoà, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Thanh Vi, sinh năm: 1983 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 107/1, Nguyễn Tr, phường Vĩnh Th, thành phố Rạch G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hữu T là đối tượng không có nghề nghiệp, có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Do không có tiền tiêu xài nên vào khoảng 03 giờ ngày 08/10/2021, T một mình đi bộ từ nhà trọ 218 Chu Văn An, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá ra đường Trần Quang Khải (hướng xuống biển) để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến trước nhà của anh Nguyễn Hồng V, số 214 Trần Quang Khải, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá thì T nhìn thấy cửa sổ lầu 2 đang mở (do anh V quên đóng), bên trong không có khung sắt bảo vệ nên T tìm cách đột nhập vào tìm tài sản lấy trộm. T trèo lên hàng rào nhà số 218 Trần Quang Khải để lên ban công lầu 1 của nhà số 216 Trần Quang Khải, từ đó T tiếp tục trèo lên ban công lầu 2 của nhà 216 Trần Quang Khải, đi qua ban công lầu 2 nhà anh V và chui qua đường cửa sổ đang mở sẵn đột nhập vào nhà. Khi vào bên trong, T đi theo cầu thang xuống tầng trệt thì phát hiện các cửa phòng của các tầng đều đóng cửa, T đi xuống tầng trệt thì phát hiện và lấy trộm được 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro 5471/i5 8250U/4GD4/1TB/Win10, màu xám-đen để trên bàn ăn và 01 (một) đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Rolex OYSter, màu vàng (gold) để trên kệ (dạng kệ quầy bar ngăn giữa phòng khách với bếp). T cất đồng hồ vào túi quần và ôm Laptop trên tay đi trở lên lầu 2 và thoát ra bên ngoài theo đường đã đột nhập. T mang tài sản trộm được về nhà trọ và sau đó đi ngủ, đến khoảng 10 giờ cùng ngày, T mang đồng hồ và Laptop đã trộm được đến tiệm cầm đồ Phúc tại 505 Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá gặp anh Ngô Thanh Vi, thỏa thuận bán Laptop cho anh Vi với giá 5.000.000 đồng và cầm cố đồng hồ cho anh Vi với giá 4.000.000 đồng. Khoảng 01 tuần sau, T tiếp tục đến gặp anh Vi và đề nghị bán đồng hồ đã cầm trước đó với giá 5.000.000 đồng, anh Vi đồng ý và đưa thêm cho T 1.000.000 đồng. Số tiền có được do bán tài sản trộm cắp nêu trên T trả tiền thuê nhà trọ, mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết. Anh Vi không biết tài sản do T trộm cắp mà có (T nói với anh Vi là tài sản của Toàn, do người thân bên ngước ngoài gửi về) nên đã mua và sau đó đã bán lại đồng hồ cho người khác, riêng chiếc Laptop anh Vi còn giữ lại cửa hàng. Sau khi biết được chiếc Laptop là do T trộm cắp mà có nên đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Ngày 15/12/2021, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đầu thú, thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình và bị tạm giữ. Ngày 18/12/2021, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố vụ án, khởi tố bị can và tạm giam để điều tra về tội trộm cắp tài sản.

* Vật chứng đã thu giữ trong vụ án:

- 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro 5471/i5 8250U/4GD4/ 1TB/Win10, màn hình 14 inch Full HD, màu đen, đã qua sử dụng, do anh Ngô Thanh Vi tự nguyện giao nộp.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 161/KL-TCKH, ngày 26/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Rạch Giá kết luận:

- 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu Rolex, màu vàng gold, số Serial 2G05K954 model 126233, đã qua sử dụng vào ngày 08/10/2021 có giá trị là 138.000.000 đồng (một trăm ba mươi tám triệu đồng).

- 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro 5471/i5 8250U/4GD4/ 1TB/Win10, màn hình 14inch Full HD, màu đen, đã qua sử dụng vào ngày 08/10/2021 có giá trị là 5.100.000 đồng (năm triệu một trăm nghìn đồng)

* Tại bản cáo trạng số: 120/CT-VKSRG; Rạch Giá, ngày 09 tháng 6 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Hữu T đã thừa nhận T bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội quay về làm ăn lương thiện.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá giữ nguyên Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 53; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để tuyên phạt cho bị cáo Nguyễn Hữu T mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

* Về xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã xử lý vật chứng: trả lại cho bị hại Nguyễn Hồng V: 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro 5471/i5 8250U/4GD4/ 1TB/Win10, màn hình 14inch Full HD, màu đen, đã qua sử dụng theo Quyết định xử lý vật chứng số 65, ngày 28/4/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

* Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại Nguyễn Hồng V đã nhận lại tài sản là chiếc Laptop bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Ngô Thanh Vi không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đề nghị xem xét giải quyết.

* Về biện pháp tư pháp:

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Hữu T giao nộp, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn T phù hợp với nội dung bản cáo trạng, kết luận điều tra và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận:

Bản thân bị cáo Nguyễn Hữu T là người có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, do không có nghề nghiệp và cần tiền tiêu xài, nên vào khoảng 03 giờ ngày 08/10/2021, T lén lút đột nhập vào nhà của anh Nguyễn Hồng V tại 214 Trần Quang Khải, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá lấy trộm 01 (một) đồng hồ nhãn hiệu Rolex, màu vàng gold, số Serial 2G05K954 model 126233, đã qua sử dụng, qua định giá có giá trị 138.000.000 đồng (một trăm ba mươi tám triệu đồng) và 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro 5471/i5 8250U/4GD4/1TB/Win10, màn hình 14inch Full HD, màu đen, đã qua sử dụng, qua định giá có giá trị là 5.100.000 đồng (năm triệu một trăm nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản T trộm cắp, qua định giá có giá trị 143.100.000 đồng (một trăm bốn mươi ba triệu một trăm ngàn đồng). Sau khi lấy trộm được tài sản trên, T mang đến tiệm cầm đồ Phúc, tại 505 Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá bán cho anh Ngô Thanh Vi với giá 10.000.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Ngày 15/12/2021, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đầu thú và thừa nhận T bộ hành vi phạm tội của mình. Ngày 18/12/2021, Nguyễn Hữu T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá tạm giam để điều tra.

Như vậy, hành vi trên của bị cáo Nguyễn Hữu T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính lười lao động lại muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã lợi dụng sư sơ hở của người bị hại lén lút thực hiện trộm cắp tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản, của người bị hại một cách trái pháp luật. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sỡ hữu về tài sản được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an của địa phương, gây bất an trong nhân dân. Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng 03 lần bị xử phạt cũng về hành vi trộm cắp tài sản trong đó có 02 tiền án hiện chưa được xóa án tích, ngoài ra bị cáo còn có 02 tiền sự chưa được xoá về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Điều này thể hiện sự xem thường và bất chấp pháo luật của bị cáo.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần có hình phạt tương xứng đối với bị cáo, đồng thời cách ly bị cáo một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện ra đầu thú, nên áp dụng tình tiết tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để cân nhắc hình phạt đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 02 tiền án chưa xoá án tích thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp; thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Hồng V đã nhận lại tài sản là chiếc Laptop bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Ngô Thanh Vi không yêu cầu bồi thường thiệt hại, và không có ai còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Hữu T giao nộp, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trả lại cho bị hại Nguyễn Hồng V: 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Dell Vostro 5471/i5 8250U/4GD4/ 1TB/Win10, màn hình 14inch Full HD, màu đen, đã qua sử dụng theo Quyết định xử lý vật chứng số 65, ngày 28/4/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá.

Xét thấy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã xử lý vật chứng đúng theo quy định tại Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về các vấn đề khác:

Đối với Ngô Thanh Vi, đã có hành vi mua tài sản do T trộm cắp mà có, tuy nhiên tại thời điểm mua tài sản của Toàn, anh Vi không biết đây là tài sản do T trộm cắp mà có nên không cấu thành tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Toàn, ngoài lời khai của T thì không thu thập được chứng cứ nào khác thể hiện T có tàng trữ, sử dụng ma túy nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T về các tội phạm về ma túy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 199 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào;

- Khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269; Điều 299; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2014 ngày 30 tháng 12 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định vể mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 53 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2021.

- Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T giao nộp, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) là tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01/7/2022). Riêng người bị hại và người liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ