- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T, giữ nguyên ản án hình sự sơ thẩm số 16/2020/HSST-CTN ngày 06/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 195/2021/HSPT Ngày: 22 - 4 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Long
Các thẩm phán:
Ông Vũ Thanh Liêm
Ông Mai Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Hiệp, Kiểm sát viên.
Vào ngày 22 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2020/TLPT-HS ngày 11 tháng 12 năm 2020 đối với ị cáo Đinh Văn T về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2020/HS-ST-CTN ngày 16-11-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Bị cáo: Đinh Văn T (tên gọi khác Đinh Hồng T), sinh năm 1967 tại Nho Quan - Ninh Bình; Nơi cư trú: tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Công an viên; trình độ vãn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn T, sinh năm 1947 và à Nguyễn Thị Q, sinh năm 1948; có vợ là à Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; ị cáo có 03 người con lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ị xử phạt 16 tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo quyết định tại Bản án số 13/HSST ngày 15/11/2002 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai. Bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù và đã chấp hành xong phần quyết định về án phí và tịch thu sung công (đã được xóa án tích). Bị cáo ị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị bắt tạm giam ngày 02/3/2021. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo:
Luật sư Nguyễn Khắc B - Văn phòng luật sư M - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Có mặt.
Bị hại:
Trần Đức T (đã chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Đức T: Ông Trần Đức T; trú tại: tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 29/01/2019, Rơ Lan N (tên gọi khác: N), sinh năm 2000, trú tại làng S, xã I, C cùng các đối tượng Kpă C, Rơ Lan B, Rơ Châm T, Rơ Mah V, Rơ Mah T uống rượu tại quán T thuộc thôn H, xã I, huyện C. Trong khi uống rượu, giữa N và T xảy ra mâu thuẫn, N đã dùng dao chém T gây thương tích. Sau khi chém T, N cùng C, B đón xe taxi của anh Siu B về nhà của N. Còn anh Rơ Mah T được đưa đến Trung tâm y tế công ty cao su C cấp cứu, điều trị.
Khoảng 17 giờ cùng ngày, nhận được tin áo Công an xã I, huyện C thành lập tổ công tác gồm các anh Ngô Văn T - Trưởng Công an xã, Bùi Xuân Đ - cán ộ Công an huyện C (tăng cường cho Công an xã I), Dương Văn T và Lê Văn T đều là Phó trưởng Công an xã, Rơ Lan B, Bùi Mạnh H và Đinh Văn T - Công an viên (T mang theo súng dạng Rulo ắn đạn cao su, ên trong có 5 viên đạn) tiến hành truy tìm các đối tượng.
Khoảng 19 giờ 25 phút cùng ngày, nhận được tin áo của quần chúng, các anh T, Đ và T đi xe taxi do anh Siu B điều khiển đến quán Internet của anh H để ắt giữ đối tượng N đưa vê Công an xã làm việc. Khi xe ô tô do anh Siu B đến trước cửa quán, anh T xuống xe thì N phát hiện thấy nên ỏ chạy vào trong quán. Anh T đuổi theo khống chế được đối tượng N tại khu vực án hàng. Cùng lúc này, Trần Đức T đang ở trong phòng Nét phát hiện thấy N ị anh T ắt giữ nên chạy ra dùng tay, chân đấm, đá vào phần đầu phía sau gáy của anh T để giải thoát cho N. Thấy vậy, Đinh Văn T tay phải cầm súng Rulo từ ngoài chạy vào túm cổ áo phía trước ên phải của T, tay phải cầm súng (súng đã mở chốt an toàn, ngón trỏ phải đặt trên cò súng) chĩa về phía người T, hô “Công an xã đây, đứng im” đồng thời kéo T ra không cho T đánh anh T nhưng T không chấp hành hiệu lệnh mà vẫn xông vào tấn công anh T. Cùng lúc này, anh Đ cầm gậy cao su cũng chạy vào hỗ trợ T khống chế T từ phía sau. Trong lúc khống chế do Trần Đức T không chấp hành hiệu lệnh nên Đinh Văn T hướng nòng súng về phía tay của T óp cò thì súng nổ, đạn trúng vào giữa hõm ức trên của T. Sau khi nổ súng ắn, Đinh Văn T ra hỗ trợ anh T ắt giữ được Rơ Lan N rồi quay vào cùng anh Đ khống chế kéo Trần Đức T ra phía trước cửa quán thì phát hiện vùng cổ, ngực của T có chảy nhiều máu. Thấy vậy, các anh T, Đ và T đưa Trần Đức T đến Trung tâm y tế công ty cao su C cấp cứu nhưng T đã chết trên đường đi.
Tại ản kết luận giám định pháp y về tử thi số 14/2019/TT ngày 21/3/2019, Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai, kết luận: Trần Đức T chết do “Mất máu cấp do vết thương giữa hõm ức trên gây thủng cung động mạch chủ”.
Theo Cáo trạng số 59/CT-VKS-P2 ngày 19/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố ị cáo Đinh Văn T phạm tội “Giết người do vượt quá mức cần thiết khi ắt giữ người phạm tội” quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Ngày 29/11/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Quyết định trả hồ sơ để điều tra ổ sung để làm rõ mục đích, động cơ, diễn iến hành vi của ị cáo Đinh Văn T để xác định ị cáo phạm tội “Giết người” hay phạm tội “Giết người do vượt quá mức cần thiết khi ắt giữ người phạm tội”.
Sau khi trả hồ sơ điều tra ổ sung theo Cáo trạng, số 71/CT-VKS-P2 ngày 28/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai thay đổi tội danh từ “Giết người do vượt quá mức cần thiết khi ắt giữ người phạm tội” quy định tại khoản 1 Điều 126 Bộ luật hình sự sang tội “Giết người” quy định tại điểm khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Với các nội dung trên,
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2020/HS-ST-CTN ngày 16/11/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên ố ị cáo Đinh Văn T phạm tội: “Giết người”
Áp dụng điểm khoản 1 Điều 123; điểm , s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt ị cáo Đinh Văn T 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày ị cáo đi chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Về vật chứng:
Giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Gia Lai quản lý, tiêu hủy theo quy định của pháp luật: 01 (một) súng ngắn loại súng Rulo (súng công cụ hỗ trợ) có ký hiệu N0 100382, ên trái thân súng có ký hiệu SDN-E112.
Tịch thu tiêu hủy:
01 (một) vỏ đạn đã ắn;
01 (một) vật hình trụ tròn màu đen dài 02cm; đường kính 0,9cm; dị vật có đàn hồi.
Toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 61/2019 ngày 27/8/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Gia Lai và Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
Ngoài ra, ản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định,
Ngày 06 tháng 11 năm 2020 bị cáo Đinh Văn T kháng cáo thay đổi tội danh và xin giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của ị cáo, giữ nguyên ản án sơ thẩm.
Luật sư ào chữa cho ị cáo đề nghị HĐXX sửa ản án sơ thẩm, xét xử ị cáo về một tội nhẹ hơn. Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để giảm cho ị cáo một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Tại phiên toà phúc thẩm, ị cáo Đinh Văn T khai nhận: Vào khoảng 19 giờ 25 phút ngày 29/01/2019, Tổ công tác của Công an xã T do anh Ngô Văn T là Trưởng Công an xã chỉ huy, tham gia có anh Bùi Xuân Đ và Đinh Văn T là Công an viên (T mang theo súng công cụ hỗ trợ ắn đạn cao su, dạng súng Rulo) tiến hành truy tìm Rơ Lan N - đối tượng đã dùng dao chém anh Rơ Mah T gây thương tích trước đó. Khi phát hiện thấy Rơ Lan N tại quán Internet Kim Yến, anh Ngô Văn T vào khống chế N thì ị Trần Đức T dùng tay, chân tấn công nhằm giải thoát cho Rơ Lan N. Thấy vậy, T chĩa súng Rulo về phía người anh Trần Đức T, còn anh Đ cầm gậy cao su hỗ trợ T khống chế anh T từ phía sau. Do anh Trần Đức T chống đối, nên T hướng nòng súng về phía tay của anh T óp cò thì súng nổ, đạn trúng vào hõm ức trên của anh T, dẫn đến anh T chết vì mất máu cấp do vết thương giữa hõm ức trên gây thủng cung động mạch chủ.
. Theo các quy định tại khoản 6, khoản 7 Điều 9 Pháp lệnh Công an xã số 06/2008/PL-UBTVQH12 ngày 21/11/2008 và tại điểm c khoản 2 Điều 4; Điều 9 Thông tư số 12/2010/TT-BCA ngày 08/4/2010 của Bộ Công an quy định cụ thể thi hành một số điều của Pháp lệnh Công an xã thì Công an xã có nhiệm vụ, quyền hạn: Tổ chức thực hiện ắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm đang lẩn trốn trên địa àn xã, lập iên ản theo quy định và dẫn giải ngay đối tượng lên Công an cấp trên. Trường hợp gặp khó khăn, vượt quá khả năng của Công an xã thì phải áo cáo ngay lên Công an cấp trên trực tiếp để có sự chỉ đạo, hỗ trợ kịp thời; đối với các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì lập hồ sơ an đầu, lấy lời khai người ị hại, người iết việc… và áo cáo ngay cho Công an cấp trên để có iện pháp xử lý kịp thời. Do đó, việc truy ắt Rơ Lan N của Công an xã T là không đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Công an xã theo quy định của pháp luật vì không thuộc trường hợp ắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm đang lẩn trốn trên xã T. Vì vậy, hậu quả anh T chết do Đinh Văn T dùng công cụ hỗ trợ gây ra không được xem là hậu quả xảy ra trong quá trình ắt giữ người phạm tội hay trong khi thi hành công vụ.
. Đinh Văn T không có giấy phép sử dụng súng (công cụ hỗ trợ) nhưng tự ý mang theo súng khi đi truy tìm, ắt Rơ Lan N và sử dụng súng là trái pháp luật. Khi Trần Đức T đang dùng tay, chân chống đối thì T cùng anh Bùi Xuân Đ đã khống chế được T, nên T không còn khả năng gây nguy hiểm cho anh Ngô Văn T và người khác. Mặc dù khi thực hiện hành vi ắn anh T, T không có ý định tước đoạt tính mạng của anh T, nhưng ị cáo phải nhận thức và pháp luật ắt uộc ị cáo phải nhận thức nếu dùng súng ắn đạn cao su với tầm gần, ắn vào cơ thể người khác là vô cùng nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng người khác vì tính sát thương cao, sẽ dẫn đến chết người.
Do vậy, hành vi sử dụng trái phép súng công cụ hỗ trợ ắn, dẫn đến anh Trần Đức T ị chết của Đinh Văn T đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, tại thời điểm ị ắn chết, anh Trần Đức T ở độ tuổi 14 năm 2 tháng 19 ngày, nên hành vi của Đinh Văn T đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng “Giết người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự. Vì vậy, với hành vi phạm tội và hậu quả như trên, các Cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Gia Lai truy tố, xét xử ị cáo Đinh Văn T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng tội danh, đúng pháp luật. Do đó, kháng cáo yêu cầu thay đổi tội danh của Đinh Văn T là không có cơ sở chấp nhận.
. Hành vi phạm tội của Đinh Văn T đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình nên cần phải xử phạt ị cáo mức hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các ị cáo thành công dân có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đúng tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội; áp dụng đúng, đủ các tình tiết giảm nhẹ đối ị cáo, tuyên phạt Đinh Văn T 09 năm tù về tội “Giết người”; mức hình phạt trên là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới nào mà Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét áp dụng; đồng thời, mức hình phạt cấp sơ thẩm tuyên xử đối với ị cáo là không nặng, tương xứng với hành vi phạm tội và hậu quả do ị cáo gây ra nên không có căn cứ để xem xét giảm hình phạt cho ị cáo.
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt ị cáo 09 năm tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, nhưng không áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xét xử ị cáo là thiếu sót, cấp phúc thẩm ổ sung cho đúng pháp luật.
. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên ị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác còn lại của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Văn T, giữ nguyên ản án hình sự sơ thẩm số 16/2020/HSST-CTN ngày 06/11/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự;
1. Xử phạt bị cáo Đinh Văn T 09 (chín) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2021.
2.Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đinh Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác còn lại của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I, TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Gia Lai; - Cơ quan CSTHAHS - Công an tỉnh Gia Lai; - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai; - Cục THADS tỉnh Gia Lai; - Trại tạm giam CA tỉnh Gia Lai; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thanh Long |