- Tranh chấp gì? án hình sự — "195 Nguyễn Hoàng T 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T ph m tội “Trộm cắp tài sản”.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 195 /2020/HS-ST Ngày: 04 - 01 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Huê
Bà Thái Thục Hiền
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh S Tùng – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2021, t i trụ s Tòa án nh n d n u n 8, Thành phố H Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 221/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2020, theo uyết định đưa vụ án ra xét xử số: 248/2020/ ĐXXST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng T; sinh năm 1989, t i Thành phố H Chí Minh; Nơi cư trú: (Hộ khẩu thường trú: 337B đường D, Phường X, u n 8, Thành phố H Chí Minh; chỗ : Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị G; vợ con chưa có.
Tiền án: Ngày 25/01/2019, bị Tòa án nh n d n u n 8, Thành phố H Chí Minh xử 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 21/1/2020 chấp hành xong án ph t tù. Ngày 20/06/2019, đã thi hành xong án phí. Tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 12/09/2007, bị Tòa án nh n d n u n 8, Thành phố H Chí Minh xử 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp gi t tài sản”. Ngày 17/07/2009, chấp hành xong án ph t tù. Ngày 15/10/2007, đã thi hành xong án phí.
- Ngày 11/08/2010, bị Ủy ban nh n d n u n 8, Thành phố H Chí Minh quyết định đưa vào Cơ s chữa bệnh thời gian 24 tháng về hành vi “Sử dụng chất ma tuý”.
- Ngày 31/07/2012, bị Ủy ban nh n d n u n 8, Thành phố H Chí Minh áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy thời gian 24 tháng, kể từ ngày 20/08/2012.
- Ngày 12/05/2016, bị Tòa án nh n d n u n 8, Thành phố H Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc thời gian 21 tháng. Ngày 05/12/2017, chấp hành xong.
- Ngày 06/09/2018, bị Tòa án nh n d n u n 8, Thành phố H Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc thời gian 23 tháng. T khiếu n i, ngày 26/09/2018, Tòa án nh n d n, Thành phố H Chí Minh ra uyết định không chấp nh n khiếu n i của T và giữ nguyên uyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc số 399/ Đ-TA ngày 06/09/2018 của Tòa án nhân dân u n 8. Ngày 08/10/2018, Giám đốc cơ s cai nghiện bắt buộc Phú Văn ban hành uyết định số 11/ Đ-CSPV t m thời đưa người ra khỏi cơ s cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Hoàng T lý do thực hiện quyết định phê chuẩn lệnh bắt bị can để t m giam.
Bị bắt, t m giữ, t m giam từ ngày 17/8/2020 đến nay (có mặt).
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm: 1999; nơi cư trú (Hộ khẩu thường trú: 23PB đường D, Phường X, u n 8, Thành phố H Chí Minh; chỗ : số 9 đường số 9, đường N, phường T, qu n B, Thành phố H Chí Minh). (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 17/08/2020, Nguyễn Hoàng T điều khiển xe honda mang biển số 54Y4-8611 đến tiệm sửa xe tên “H”, số 65/4 đường Đ, Phường X, u n 8, Thành phố H Chí Minh do anh Huỳnh Văn H làm chủ. Khi T đến thì thấy anh Nguyễn Văn S, Lê Minh Q cùng anh H đang sửa xe. Lúc này, tiệm sửa xe gần nghỉ trưa nên T bỏ xe honda trên l i và hẹn sẽ quay l i lấy xe sau. T nhờ Q ch về dãy trọ Y t i số 51 đường Đ, Phường X, u n 8, Thành phố H Chí Minh. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T đi bộ đến tiệm sửa xe, thấy xe chưa sửa xong nên T đi vào trong tiệm lục đ nghề sửa xe, r i quay ra thì thấy chiếc điện tho i hiệu Iphone 8 plus ốp lưng màu đỏ của anh S đang s c trên nền nhà, phía sau sát cánh cửa bên trái (hướng từ ngoài vào) nên T nảy sinh ý định lấy trộm điện tho i trên. T cúi xuống, dùng tay phải lấy trộm chiếc điện tho i nhét vào phía sau lưng quần r i đi ra chỗ đang sửa xe hối anh S làm nhanh. Lúc này, xe honda của T cũng vừa làm xong nên T thanh toán tiền và nh n l i xe. Sau đó, T nổ máy bỏ đi đến đường Đ, Phường C, Qu n 8 uống nước. Khoảng 10 phút sau, anh S kiểm tra điện tho i trên thì phát hiện đã bị lấy trộm, nghi T lấy trộm nên anh S ch y đi tìm T nhưng không thấy. Đến khoảng 17 giờ ngày 17/8/2020, phát hiện T đang đứng gần dãy nhà trọ Y, số 51 đường Đ. Nhìn thấy anh S, T định bỏ ch y nên anh S la lên “Trộm, trộm, cướp, cướp”. Lúc này, tổ tuần tra của Phòng cảnh sát Hình sự - Công an thành phố H Chí Minh nghe tiếng la của anh S nên đuổi theo T khoảng 04m thì bắt giữ được T. Cùng lúc này Công an Phường 16, u n 8 đang tuần tra đến hỗ trợ bắt giữ T, thu giữ trong túi quần bên phải của T 01 chiếc điện tho i di động nghi là tài sản ph m pháp nên đưa T cùng v t chứng về trụ s Công an Phường 16 để làm rõ.
T i Cơ quan điều tra, Nguyễn Hoàng T khai nh n do bản th n nghiện ma túy nên để có tiền mua ma túy T đã thực hiện việc trộm cắp tài sản như đã nêu trên. Lời khai của T phù hợp với diễn biễn và những tài liệu, chứng cứ thu th p được trong vụ án.
Ngày 19/08/2020, Hội đ ng định giá trong tố tụng u n 8 kết lu n:
- 01 điện tho i di động hiệu Iphone 8plus, số seri: F17WMCC JWLK, số IMEI: 356117091436206, số MEID: 35611709143620, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng, qua khảo sát thực tế tài sản có giá trị là 4.000.000 đ ng.
- 01 ốp điện tho i màu đỏ, đã qua sử dụng, qua khảo sát thực tế có giá trị là 10.000 đ ng.
V t chứng vụ án: 01 (một) điện tho i di động hiệu Iphone 8plus là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn S nên ngày 20/08/2020, Công an u n 8 ra uyết định xử lý v t chứng bằng cách trao trả cho anh S, anh S nh n l i tài sản và không có yêu cầu gì khác.
- 01 (một) xe mô tô mang biển số 54Y4-8611, có số khung: CH0ND71 E06722, số máy: 152FMHT006722. Xác minh được biết xe mô tô này do anh Nguyễn Bá N đứng tên chủ s hữu. Tiến hành ghi lời khai anh N được biết: Xe trên được anh N mua vào tháng 11/2007 với giá 27.000.000 đ ng. Đến năm 2017, anh N bán xe honda trên cho chị Nguyễn Thị Kim H (chị gái của T) với giá 2.000.000đ, không làm giấy tờ mua bán xe và chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Khoảng tháng 3/2020, chị H cho Nguyễn Hoàng T mượn sử dụng để làm nghề xe ôm. Vào ngày 17/08/2020, chị H không biết T sử dụng xe honda trên để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 28/10/2020, Công an u n 8 đã ra uyết định xử lý v t chứng bằng cách trao trả cho chị H. Chị H đã nh n l i tài sản và không có yêu cầu gì khác.
T i bản Cáo tr ng số 212/ CT-VKSQ8 ngày 23/11/2020 Viện kiểm sát nh n d n u n 8, Thành phố H Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
T i phiên tòa, Kiểm sát viên đ i diện Viện kiểm sát nh n d n u n 8, Thành phố H Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi ph n tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử ph t bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 15 tháng đến 21 tháng tù; Không áp dụng hình ph t bổ sung là hình ph t tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm d n sự: bị h i nh n l i tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
Bị cáo không có ý kiến tranh lu n; bị cáo thừa nh n hành vi ph m tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình ph t.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa, Hội đ ng xét xử nh n định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an u n 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n u n 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t tố tụng hình sự. uá trình điều tra, truy tố và t i phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
T i phiên tòa, bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai t i cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị h i, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ vụ án, xác định vào khoảng 17 giờ ngày 17/08/2020, t i số 65/4 đường Đ, Phường X, u n 8, Thành phố H Chí Minh, bị cáo Nguyễn Hoàng T có hành vi lén lút chiếm đo t tài sản của anh Nguyễn Văn S tài sản có tổng trị giá trị là 4.010.000 (bốn triệu không trăm mười ngàn) đ ng, hành vi của bị cáo T bị phát hiện và bị Công an bắt giữ.
Điều 173 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã x m ph m đến quyền s hữu tài sản của cá nh n được pháp lu t bảo vệ. Như v y, Hội đ ng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội ph m và hình ph t được quy định t i khoản 1 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi ph m tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã từng bị kết án và bị xử ph t tù nhưng vẫn tiếp tục ph m tội. Xét tính nghiêm trọng của tội ph m mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình ph t tù có thời h n nhằm cải t o, giáo dục bị cáo tr thành người có ích, có ý thức tu n theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa ph m tội mới; đ ng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội ph m trong xã hội.
Ngày 25/01/2019, bị cáo bị Tòa án nh n d n u n 8, Thành phố H Chí Minh xử 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 21/01/2020, chấp hành xong hình ph t tù, nên chưa được xóa án tích. Do đó, lần ph m tội này là thuộc trường hợp “tái phạm”, đ y là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định t i điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về nh n th n của bị cáo: Bị cáo có quá trình nh n xấu, nên Hội đ ng xét xử cũng lưu ý khi quyết định hình ph t đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: uá trình điều tra, truy tố và t i phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã thu h i trả cho bị h i nên Hội đ ng xét xử áp dụng các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình ph t đối với bị cáo.
Cáo tr ng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ s , đúng người, đúng tội. Mức hình ph t mà Viện kiểm sát nh n d n u n 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội nên có căn cứ chấp nh n.
Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo t i phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nh p, điều kiện kinh tế còn khó khăn; vì v y, Hội đ ng xét xử không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm d n sự và xử lý v t chứng: Bị h i đã nh n l i tài sản và không có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đ ng xét xử không xem xét.
- Xe mô tô mang biển số 54Y4-8611, qua xác minh của chị Nguyễn Thị Kim H (chị gái của T). Chị H đã nh n l i tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đ ng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định t i Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ uốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T ph m tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử ph t bị cáo Nguyễn Hoàng T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày 17/8/2020.
- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ lu t Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ uốc hội.
Buộc bị cáo nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị h i vắng mặt t i phiên toà có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, tính từ ngày nh n được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND u n 8; - VKS ND TP. HCM; - C ĐT CA u n 8; - C THA HS CA u n 8; - Nhà t m giữ CA u n 8; - Chi cục THA DS u n 8; - Người tham gia tố tụng khác; - TAND TP.HCM; - S Tư pháp TP.HCM; - PC53; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phúc |